Nguyễn Trung Trực: Biểu tượng của khí phách Việt Nam
Nguyễn Trung Trực: Biểu tượng của khí phách Việt Nam
Ngay sau khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vang lên, chúng đã vấp phải làn sóng phản kháng mạnh mẽ từ mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, đặc biệt là trong nửa cuối thế kỷ XIX. Giữa không khí sục sôi của các phong trào kháng chiến khắp mọi miền đất nước, đã xuất hiện những bậc anh hùng, những thủ lĩnh nghĩa quân kiên trung với lòng yêu nước nồng nàn. Trong số đó, Nguyễn Trung Trực nổi lên như một tấm gương sáng ngời về ý chí quật cường và tinh thần quyết chiến chống giặc ngoại xâm.
Ông đã khiến quân thù phải khiếp sợ bởi những chiến công hiển hách, mà đỉnh cao là trận hỏa hồng tiêu diệt tàu Hy Vọng (L’ Espérance) của Pháp trên dòng sông Nhật Tảo (1861). Dù rơi vào tay giặc, người anh hùng ấy vẫn giữ vững khí tiết cho đến hơi thở cuối cùng. Trước khi bước ra pháp trường, ông đã để lại câu nói bất hủ: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. Câu nói ấy không chỉ là một lời thề son sắt mà còn là bản tuyên ngôn về lòng yêu nước, là tiếng gọi bất diệt khơi dậy tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam suốt hơn một thế kỷ qua. Khí phách hiên ngang của ông gắn liền với những giai thoại, huyền thuyết bi hùng về một vị tướng quả cảm, người đã coi cái chết nhẹ tựa lông hồng vì nền độc lập của Tổ quốc.
Ông tên thật là Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1838. Thuở nhỏ, ông còn có tên là Chơn. Ông sinh ra và lớn lên tại xóm nghề chài ven sông Bình Nhật. Từ nhỏ Nguyễn Trung Trực đã học võ văn lẫn võ. Dựa vào tính tình cương trực, chân chất, hay cứu mang giúp kẻ thế cô, thầy đặt tên cho ông là Trực, tức tính ngay thẳng.
Tháng 2 năm 1859, thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định. Vốn xuất thân từ giới dân chài và nằm trong hệ thống lính đồn điền của kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trung Trực đã hăng hái tham gia kháng chiến. Ông không chỉ tích cực chiến đấu mà còn vận động, chiêu mộ đông đảo nông dân gia nhập nghĩa quân để bảo vệ đại đồn Chí Hòa. Tuy nhiên, sau khi đại đồn thất thủ, ông lui về vùng Tân An để tiếp tục củng cố lực lượng.
Tại quê nhà, vào ngày 10 tháng 3 năm Canh Thân (1860), ông làm lễ tuyển nghĩa xuất quân, đầu quân tại đội nghĩa binh của Trương Định và được tín nhiệm giao giữ chức Quyền sung Quản binh đạo. Khi đại bản doanh Kỳ Hòa rơi vào tay giặc, ông một lần nữa rút quân về phủ Tân An để tổ chức kháng chiến lâu dài.
Chính tại đây, ông đã trực tiếp chỉ huy trận đánh vang dội đốt cháy tàu L’ Espérance (Hy vọng) của quân Pháp trên dòng Nhật Tảo. Với những chiến công hiển hách và sự kính trọng của nhân dân, ông còn được gọi bằng những tên thân thuộc như Quản Chơn hay Quản Lịch.
Từ năm 1860, Nguyễn Trung Trực tham gia đạo binh của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, góp công lớn trong việc trấn giữ đại đồn Kỳ Hòa. Ngày 24/2/1861, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, Trương Định rút quân về Gò Công, còn cánh quân của Nguyễn Trung Trực tiếp tục bám trụ và hoạt động tại khu vực Tân An. Lúc bấy giờ, sau khi chiếm được Gia Định, thực dân Pháp bắt đầu mở rộng quy mô xâm lược ra các tỉnh Nam Bộ.
Đến tháng 4 cùng năm, thành Định Tường rơi vào tay giặc, quân Pháp hoàn toàn kiểm soát vùng Mỹ Tho. Chúng thiết lập hệ thống kìm kẹp gắt gao bằng cách sử dụng các tàu chiến làm “đồn nổi” di động trên các tuyến đường thủy. Trong số đó, tiểu hạm L’Espérance (Hy vọng) – niềm tự hào của hải quân Pháp – đang án ngữ đầy thách thức tại vàm Nhật Tảo.
Sáng ngày 10/12/1861, một kế hoạch tác chiến táo bạo và mưu trí đã được thực hiện. Nguyễn Trung Trực cùng các cộng sự tin cẩn như Phó Quản binh đạo Huỳnh Khắc Nhượng, Nguyễn Văn Quang và 59 nghĩa quân cảm tử phối hợp chặt chẽ với những người yêu nước trong bộ máy hành chính làng Nhật Tảo là Cai tổng Hồ Quang Minh và Hương thân Hồ Quang Chiêu.
Chiến thuật được dàn trận công phu: Nguyễn Trung Trực giao cho Huỳnh Khắc Nhượng và Nguyễn Văn Quang mỗi người dẫn một đội quân bí mật men theo hai bờ sông, mai phục sẵn chờ lệnh. Trong khi đó, đích thân Nguyễn Trung Trực cùng 59 cảm tử quân trên 5 chiếc ghe hóa trang thành một đoàn rước đám cưới linh đình, tiến thẳng về phía tàu Pháp.
Khi áp sát tiểu hạm L’ Espérance, viên sĩ quan trực trên tàu tưởng là đoàn ghe dân sự đến xin phép lưu thông. Ngay khoảnh khắc hắn nghiêng mình ra cửa sổ, nghĩa quân bất ngờ tung đòn tấn công chớp nhoáng. Tiếng la hét rung trời cùng ánh đuốc lửa xuất hiện, nghĩa quân đồng loạt nhảy lên tàu đánh giáp lá cà với lính thủy Pháp.
Phối hợp nhịp nhàng, cánh quân hai bên bờ cũng nhanh chóng lao ra tiếp chiến. Từ sự kiện cờ hiệu của tàu, các nghĩa sĩ Nguyễn Hữu Huân và Hồ Quang Chiêu đã quyết đoán phóng hỏa, nhấn chìm chiến hạm “Hy vọng” xuống dòng Nhật Tảo. Trận đánh không chỉ là một chiến công quân sự vang dội mà còn là biểu tượng của tinh thần lấy yếu thắng mạnh, lấy mưu trí thắng vũ khí hiện đại của dân tộc ta.
Hay tin về thảm họa của tàu L’ Espérance, Trung úy Parfait lúc bấy giờ đang truy đuổi nghĩa quân cách đó khoảng hai dặm, đã tức tốc tìm đến tàu Gron trên sông Vàm Cỏ để xin viện binh. Trở lại hiện trường ngay trong ngày nhưng không tìm thấy bóng dáng nghĩa quân, Parfait đã trút cơn giận dữ lên những người dân vô tội bằng lệnh thiêu rụi cả làng Nhật Tảo.
Biến đau thương thành hành động, Nguyễn Trung Trực tiếp tục chỉ huy nhiều trận đánh du kích hiệu quả trên khắp vùng đất Long An. Đến ngày 24/6/1868, khi Hà Tiên rơi vào tay giặc, ông quyết định rút về Hòn Chông để củng cố lực lượng. Tại đây, ông mở rộng địa bàn hoạt động ra vùng U Minh, kết giao với các nhà nho yêu nước và xây dựng một đội ngũ nghĩa binh vững mạnh, sẵn sàng cho những cuộc đối đầu mới.
Đêm 16/6/1868, một kế hoạch tác chiến táo bạo bậc nhất đã diễn ra. Đoàn nghĩa quân từ Tà Niên bí mật men theo bờ biển, đổ bộ lên gần đồn Ông. Khi trời vừa hửng nắng, theo hiệu lệnh của Nguyễn Trung Trực, nghĩa quân bất ngờ công kích đồn Rạch Giá. Bằng lối đánh áp sát và mã tấu sắc bén, họ nhanh chóng hạ gục quân canh và tràn vào đồn.
Quân Pháp hoàn toàn bị động, nhiều tên bị tiêu diệt ngay trên giường ngủ. Những kẻ kịp tỉnh táo bắn trả cũng không có cơ hội nạp đạn lần thứ ba trước sức tấn công như vũ bão của nghĩa quân. Kết quả, chỉ có 5 tên lính Pháp thoát thân, số còn lại đều bị tiêu diệt – bao gồm cả viên Chỉ huy người Pháp. Nghĩa quân bắt sống 6 tên, thu giữ hơn 100 khẩu súng cùng một kho đạn dược lớn.
Sau ba ngày đêm giữ vững trận địa trước sự phản công của lực lượng địch áp đảo, để bảo toàn lực lượng cho cuộc chiến lâu dài, Nguyễn Trung Trực đã ra lệnh cho nghĩa quân rút lui chiến thuật về phía Hòn Chông.
Giai đoạn Nguyễn Trung Trực rút quân ra đảo Phú Quốc để xây dựng căn cứ kháng Pháp đã để lại cho vùng đất này nhiều huyền thoại bất diệt. Hay tin nghĩa quân lập căn cứ, thực dân Pháp đã huy động tên Việt gian Huỳnh Văn Tấn cùng hơn một trăm lính mã tà rầm rộ tấn công vào tham Ninh. Lúc bấy giờ, lực lượng nghĩa quân chỉ vỏn vẹn khoảng 300 người, đối mặt với tàu chiến Pháp liên tục nã pháo dồn dập từ ngoài khơi vào bờ. Tuy nhiên, nhờ địa thế rừng rậm và sự cảnh giác của nghĩa quân, đám quân do thám của địch vẫn e dè không dám tiến sâu vào đất liền.
Để đối phó với lực lượng địch hùng hậu, Nguyễn Trung Trực đã vận dụng linh hoạt kế đa quân (nghi binh) đầy mưu trí. Ông chia nhỏ lực lượng trấn giữ cửa sông thành nhiều nhóm, mỗi nghĩa sĩ cầm theo các bó nhánh cây và giả nhiều giọng nói khác nhau để tạo cảm giác quân số đông đảo. Đồng thời, một nhóm khác chèo thuyền len lỏi qua các lạch nhỏ hướng về phía Cửa Lấp, liên tục ra vào quấy động mặt nước. Nhìn từ xa, quân Pháp hoàn toàn bị đánh lừa, lầm tưởng rằng có một đạo thủy quân hùng mạnh đang dàn trận chờ sẵn.
Trong các đợt đổ bộ, nghĩa quân thậm chí còn dùng súng gỗ bắn trả để nghi binh, khiến quân Pháp không dám mạo hiểm tấn công trực diện vào căn cứ. Nhận thấy không thể khuất phục bằng quân sự, thực dân Pháp chuyển sang chiến thuật bao vây, cho tàu chiến phong tỏa chặt các cửa sông trên đảo nhằm triệt hạ đường tiếp tế và lối thoát của nghĩa quân.
Dù bị cô lập giữa biển khơi, nhưng nhờ sự mưu lược của ông, cuộc chiến đấu tại Phú Quốc đã được kéo dài đầy anh dũng. Chỉ đến khi rơi vào mưu kế hiểm độc của tên Đội Tấn (bắt giữ mẹ và thân mẫu của ông để uy hiếp), người anh hùng Nguyễn Trung Trực mới chấp nhận hy sinh thân mình, tự nộp mạng để cứu nhân dân và nghĩa binh khỏi cảnh lầm than.
Sau những chiến công vang dội khiến quân thù khiếp vía, thực dân Pháp điên cuồng mở các cuộc truy sát nhằm tiêu diệt ông và nghĩa quân. Tại Rạch Giá, chúng tàn nhẫn sát hại 700 thường dân để trả thù cho trận công đồn. Những tên Việt gian như Tấn Lộc, Phương treo giải thưởng hậu hĩnh và quan chức cho kẻ nào lấy được thủ cấp của ông. Đau đớn hơn, chúng bắt giữ mẹ ông cùng nhiều dân lành làm con tin, mỗi ngày đem hành quyết vài người nhằm uy hiếp, buộc ông phải ra hàng.
Giữa lúc đó, bi kịch gia đình ập đến: vợ ông qua đời vì bệnh hậu sản sau khi vượt cạn trong rừng sâu. Đứa con thơ chưa đầy tháng tuổi thiếu sữa mẹ và bị giặc khủng bố nên cũng không qua khỏi. Trong phút giây tột cùng của nỗi đau, tay ôm xác con, mẹ bị cầm tù, nhân dân bị thảm sát, thuốc súng lại cạn kiệt, ông đã đưa ra một quyết định đau đớn nhưng cao thượng: Ông quyết định nộp mình cho giặc vào ngày 19 tháng 9 năm 1868 để đổi lấy mạng sống cho nhân dân và nghĩa quân.
Khi bắt được ông, thực dân Pháp đưa ông từ Rạch Giá về Sài Gòn bằng tàu Hải Âu. Suốt chặng đường, tên phản bội Huỳnh Công Tấn dùng đủ mọi lời lẽ vinh hoa phú quý, chức tước để dụ dỗ nhưng ông chỉ khinh bỉ gạt ngoài tai và khẳng định dõng dạc: “Tôi chỉ muốn làm một chiếc thuyền, chứ không có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây xâm lược”.
Dù những ghi chép của nhà sử học Phạm Văn Sơn hay quan chức Pháp Paulin Vial có những cách nhìn khác nhau về hoàn cảnh ông bị bắt, nhưng tất cả đều thừa nhận lòng quả cảm và lý do hy sinh vì đại nghĩa của ông. Bất chấp sự can thiệp của thuộc hạ, thống đốc Nam Kỳ G. Ohier vẫn quyết định hành quyết ông vì coi ông là một đối thủ nguy hiểm không thể khuất phục.
Sáng ngày 27 tháng 10 năm 1868 tại chợ Rạch Giá, nhân dân khắp nơi đổ xô về để tiễn đưa người anh hùng. Trước giờ hành hình, Nguyễn Trung Trực hiên ngang yêu cầu không bịt mắt, không trói tay để ông được nhìn ngắm đồng bào và quê hương lần cuối. Các bô lão làng Tà Niên đã cung kính trải xuống đất một chiếc chiếu hoa dệt chữ “Thọ” để ông bước lên. Giữa pháp trường, ở tuổi 30 tràn đầy nhựa sống, ông dõng dạc nhắc lại lời thề bất hủ: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây!”.
Lưỡi gươm của kẻ thù có thể lấy đi mạng sống của ông, nhưng tinh thần quật cường ấy đã trở thành một bản tuyên ngôn bất hủ, cháy mãi trong lòng dân tộc Việt Nam qua bao thế hệ.
Sau khi Nguyễn Trung Trực anh dũng hy sinh, niềm tiếc thương và lòng kính trọng của nhân dân dành cho ông là vô hạn. Để qua mặt sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, người dân Rạch Giá đã bí mật đưa bài vị ông vào thờ phụng tại đền Nam Hải Đại Vương (thờ cá Ông). Dưới lớp vỏ bọc tâm linh ấy, hình tượng người anh hùng “vị quốc vong thân” vẫn âm thầm sống mãi, được che chở bởi đức tin và lòng dân.
Ngôi đền ấy chính là Đền thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại thành phố Rạch Giá ngày nay – một địa chỉ đỏ thiêng liêng, ngọn lửa không bao giờ tắt. Không chỉ ở Rạch Giá, khắp các tỉnh miền Tây từ Long An, An Giang đến Kiên Giang, nhiều đền thờ và những bức tượng đầy uy nghi đã được dựng lên để ghi nhớ công ơn ông. Những bức tượng khắc họa hình ảnh một vị tướng tay cầm kiếm, mắt nhìn thẳng, hiên ngang giữa đất trời chính là biểu tượng cho khí phách Việt Nam – không bao giờ khuất phục trước cường quyền.
Ông đi vào cõi bất tử không chỉ như một vị tướng tài hoa với chiến công “Hỏa hồng Nhật Tảo – Kiếm bạt Kiên Giang” mà còn như một tấm gương soi sáng cho lòng yêu nước của các thế hệ mai sau.
Những trận đánh oanh liệt của ông không chỉ là những cột mốc quân sự chói lọi mà còn để lại những giá trị lịch sử và văn hóa vô giá cho nhân dân miền Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Ông đã tạc vào lịch sử một hình tượng người anh hùng kết tinh từ lòng dân, trí tuệ trong chiến thuật, can trường trong chiến đấu và hiên ngang trước cái chết.
Đối với thế hệ con cháu mai sau, những chiến công hiển hách ấy là bài học sâu sắc về lòng yêu nước bất diệt và ý chí tự lực tự cường. Câu nói và hành động của ông đã chứng minh một chân lý vĩnh cửu: Khi lòng dân đã hòa cùng vận mệnh đất nước thì không một sức mạnh bạo tàn nào có thể khuất phục được.
Nguyễn Trung Trực, ông không chỉ là một danh tướng, ông đã trở thành một phần của hồn thiêng sông núi, một biểu tượng văn hóa tâm linh che chở cho vùng đất phương Nam. Tinh thần của ông sẽ mãi là ngọn đuốc sáng, thôi thúc mỗi người Việt Nam hôm nay và mai sau luôn sống xứng đáng với sự hy sinh của cha ông, quyết tâm giữ vững nền độc lập và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.



