Người có công giúp đỡ cách mạng

NGUYỄN TRUNG TRỰC – KHÍ PHÁCH ANH HÙNG GIỮA THỜI KHÁNG PHÁP_KTL

Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc kiệt xuất sẵn sàng đứng lên chiến đấu chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương. Trong số đó, Nguyễn Trung Trực là một tấm gương tiêu biểu của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung trong thời kỳ chống Pháp. Với ý chí kiên cường cùng những chiến công vang dội, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc và và là niềm tự hào trong nhiều thế hệ

Đồng Tháp04/06/2026Huỳnh Phúc Thịnh (Đoàn Trường Đại học Đồng Tháp)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN TRUNG TRỰC – KHÍ PHÁCH ANH HÙNG GIỮA THỜI KHÁNG PHÁP

Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc kiệt xuất sẵn sàng đứng lên chiến đấu chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương. Trong số đó, Nguyễn Trung Trực là một tấm gương tiêu biểu của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung trong thời kỳ chống Pháp. Với ý chí kiên cường cùng những chiến công vang dội, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc và và là niềm tự hào trong nhiều thế hệ người Việt.

Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1838 tại xóm nghề thôn Bình Nhựt thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc xã Bình Đức, tỉnh Tây Ninh - trước sáp nhập là huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Nguyên quán gốc của ông ở xóm Lưới, huyện Phù Cát, Thị trấn Bình Định ( nay là xã Phù Cát 4, tỉnh Gia Lai - trước sáp nhập là huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định). Cha là Nguyễn Văn Phụng, mẹ là Lê Kim Hồng. Ông lớn lên trong thời kì đất nước rơi vào cảnh bị thực dân Pháp xâm lược. Chứng kiến cảnh nhân dân lầm than, quê hương bị giày xéo, từ nhỏ ông đã nuôi dưỡng lòng căm thù giặc và lòng yêu nước sâu sắc. Ông nổi tiếng là người nghĩa hiệp, gan dạ và luôn bênh vực người nghèo khó.

Ông được học cả văn lẫn võ từ nhỏ. Năm 1858-1859, ông đoạt giải quán quân võ đại tại Cai Tài, phủ lỵ Tân An, võ sinh các môn phái tham gia võ đài đều tôn Nguyễn Văn Lịch làm thủ lĩnh Dân quân tham gia đánh giặc khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ. Tháng 2 năm 1859, khi Pháp tấn công thành Gia Định, Nguyễn Trung Trực đã tham gia nghĩa quân chống giặc cứu nước. Năm 1861, Trương Định lúc đó giữ chức Phó Quản cơ Gia Định chiêu mộ nghĩa quân, tổ chức đánh Pháp nhiều trận. Khi Đại Đồn (ở phía Tây Sài Gòn) bị thất thủ, quân của triều đình theo lệnh rút về Biên Hòa. Trương Định đưa quân về đóng giữ xứ Gò Thượng, huyện Tân Hòa (Tiền Giang) để củng cố đội ngũ. Tại đây, Nguyễn Trung Trực gia nhập nghĩa quân. Ông sớm bộc lộ tài năng nên được Trương Định trọng dụng, cho làm quyền sung quản binh đạo. Nguyễn Trung Trực được giao chỉ huy một bộ phận nghĩa quân hoạt động ở vùng Tân An, lập nhiều chiến công, tiêu biểu nhất là trận đánh chiếm và đốt cháy tàu L'Espérancecủa Pháp tại vàm Nhựt Tảo (Long An) ngày 10/12/1861, sau đó Nguyễn Trung Trựcchỉ huy nghĩa quân tấn công một tiểu hạm khác của Pháp trên rạch Tra (Gò Công).

Năm 1867, Nguyễn Trung Trực được phong chức Lãnh binh tỉnh Gia Định rồi Thành thủ úy Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp về Hà Tiên thì Hà Tiên đã bị quân Pháp chiếm đóng (ngày 24/6/1867). Nguyễn Trung Trực rút quân về Hòn Chông, mở rộng hoạt động về vùng U Minh (nay là xã An Biên, tỉnh An Giang – trước sáp nhập là huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang). Sau một thời gian, Nguyễn Trung Trực kết nối với một số nghĩa sĩ ở vùng Tà Niên như Lâm Quang Ky, Trịnh Văn Tư, Ngô Văn Búp, Hồng Văn Ngàn, Nguyễn Văn Miên… nhanh chóng mở rộng địa bàn hoạt động ra Rạch Giá. Đêm 16/6/1868, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân lợi dụng lúc trời còn tối đã tổ chức đánh úp, diệt và thiêu rụi đồn Kiên Giang, làm chủ được chiến sự nơi này một tuần lễ. Quân Pháp phải điều quân từ Vĩnh Long qua Kiên Giang để chiếm lại tỉnh lỵ Rạch Giá. Nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực lực lượng ít, thế yếu nên rút khỏi Rạch Giá để bảo toàn lực lượng và lui về Hòn Chông. Quân Pháp tiếp tục đưa quân truy đuổi, quyết tiêu diệt nghĩa quân. Nguyễn Trung Trực phải rút ra Phú Quốc. Quân Pháp tiếp tục tăng thêm viện binh ra Phú Quốc. Sau một thời gian cầm cự, do lực lượng quá chênh lệch, điều kiện hoạt động khó khăn, nghĩa quân ngày càng suy kiệt dần trong khi quân Pháp được sự bày mưu, hiến kế, tiếp tay đắc lực của Việt gian, chúng dùng cả thủ đoạn bắt mẹ của Nguyễn Trung Trực và một số người dân làm con tin. Chúng công khai khủng bố người dân để áp bức tinh thần của ông và nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân ngày càng yếu thế, Nguyễn Trung Trực quyết định hy sinh bản thân, ra đương đầu với quân Pháp mà không hề nao núng. Ngày 19/9/1868, Nguyễn Trung Trực đã sa vào tay giặc. Thực dân Pháp đưa ông về Sài Gòn, dùng nhiều cách tra khảo và chiêu dụ ông đầu hàng nhưng đều thất bại. Biết không thể khuất phục được ông, Pháp đưa ông về Rạch Giá xử chém vào ngày 27/10/1868. Dù bị tra tấn và dụ dỗ đầu hàng, ông vẫn giữ vững khí phách của người anh hùng dân tộc. Trước kẻ thù, ông thẳng thừng tuyên bố:

“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây.”

Câu nói ấy đã thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, ý chí bất khuất và niềm tin mãnh liệt vào sức sống của dân tộc Việt Nam. Đó không chỉ là lời thách thức đối với thực dân Pháp mà còn là lời khẳng định tinh thần đấu tranh không bao giờ khuất phục của nhân dân Việt Nam. Năm 1868, Nguyễn Trung Trực đã anh dũng hy sinh tại Rạch Giá ( An Giang – trước sáp nhập là tỉnh Kiên Giang ). Sự hy sinh của ông đã khiến nhân dân vô cùng thương tiếc và kính phục. Dù cuộc đời ngắn ngủi, ông đã để lại dấu ấn lớn lao trong lịch sử dân tộc, trở thành biểu tượng tiêu biểu của tinh thần chống giặc ngoại xâm ở Nam Bộ. Trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của ông có hai chiến công nổi bật, đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng hai câu thơ sau:

“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.”

Ngày nay, tên tuổi của Nguyễn Trung Trực vẫn được nhân dân cả nước ghi nhớ và tôn vinh. Nhiều trường học, đường phố, đền thờ mang tên ông để tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc. Hằng năm, lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực được tổ chức trang trọng ở Đình thần Nguyễn Trung Trực vào ngày 26 – 28/8 âm lịch hằng năm tại phường Rạch Giá, tỉnh An Giang ( trước sáp nhập là thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ) nhằm tôn vinh công lao và đức tài của ông.

Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực là tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất. Ông đã hy sinh vì độc lập và tự do của dân tộc, để lại bài học quý giá cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Tinh thần anh hùng của Nguyễn Trung Trực sẽ mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của ông tuy không dài nhưng đã để lại những dấu ấn vô cùng to lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất trước kẻ thù, Nguyễn Trung Trực đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng dân tộc. Những chiến công oanh liệt cùng câu nói bất hủ của ông không chỉ thể hiện khát vọng độc lập, tự do mà còn khẳng định sức mạnh đoàn kết và ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam. Tấm gương của Nguyễn Trung Trực nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng những hy sinh của cha ông, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, nâng cao tri thức và tinh thần trách nhiệm đối với đất nước. Dù trong thời chiến hay thời bình, lòng yêu nước, ý chí vượt khó và tinh thần cống hiến vì cộng đồng của ông vẫn luôn là bài học quý giá để mỗi người noi theo, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng giàu mạnh, văn minh.

Tinh thần chống giặc ngoại xâm của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực luôn luôn được "dân thờ, nước nhớ" sâu đậm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn