Bài viết

NGUYỄN TRUNG TRỰC: NGỌN LỬA BẤT DIỆT TRÊN DÒNG NHỰT TẢO VÀ HÀO KHÍ TỰ DO CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Tây Ninh24/04/2026Đoàn cơ sở Sở Nông nghiệp và Môi trường (Đoàn Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

I. Cội nguồn và sự hình thành một nhân cách thép

Trong dòng chảy bi tráng của lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp vào thế kỷ XIX, Nguyễn

Trung Trực hiện thân như một biểu tượng rực rỡ nhất cho ý chí độc lập và khí tiết dân tộc. Ông

sinh năm 1838, tên khai sinh ban đầu là Nguyễn Văn Chơn, đến khi dấn thân vào nghiệp binh đao

năm 1859 thì đổi tên thành Nguyễn Văn Lịch. Theo các sử liệu và gia phả xác thực, nguyên quán

của ông vốn ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, trấn Bình Định. Tổ phụ của ông là cụ

Nguyễn Văn Đạo đã cùng gia đình di cư vào Nam trong làn sóng khai phá đất mới thời Tây Sơn

và dừng chân tại xóm Nghề, ven sông Bến Lức. Đáng chú ý, vùng đất Bình Nhựt – nơi ông sinh

ra – theo chỉ dẫn địa lý hiện nay được xác định thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh.

Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1838-1868)

Lớn lên trong môi trường sông nước khắc nghiệt của vùng đất mới, Nguyễn Trung Trực sớm bộc

lộ tư chất thông minh và bản lĩnh can trường. Ông được gia đình cho theo học cả văn lẫn võ tại lò

võ rạch Bảo Định. Chính vì tính tình ngay thẳng, cương trực và luôn ra tay cứu giúp kẻ yếu, thầy

dạy đã đặt cho ông mỹ hiệu Trung Trực. Ở tuổi 18, ông đã sớm thể hiện chí hướng cứu quốc khi

đệ đơn xin lập đạo nghĩa binh để tiễu trừ giặc cướp đường sông bảo vệ xóm làng. Sự kết hợp giữa

giáo dục Nho học và võ nghệ thực chiến đã nhào nặn nên một vị thủ lĩnh vừa có sự mưu lược của

người cầm quân, vừa có sự bền bỉ của một ngư dân dạn dày sương gió.

II. Chiến thắng Nhựt Tảo: Khúc nhạc dạo đầu của cuộc tổng công kích

Tháng 2 năm 1859, khi quân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, Nguyễn Trung Trực đã hăng

hái chiêu mộ nông dân tham gia bảo vệ đại đồn Chí Hòa dưới trướng Bình Tây Đại nguyên soái

Trương Định. Ông sớm được tin tưởng giao chức Quyền sung Quản binh đạo, trực tiếp chỉ huy

một bộ phận nghĩa quân hoạt động tại vùng Tân An. Đỉnh cao của giai đoạn này chính là trận hỏa

công vang dội trên dòng Nhựt Tảo vào ngày 10/12/1861.

ể ế ể ể

Vào thời điểm đó, thực dân Pháp lợi dụng ưu thế thủy quân để kiểm soát toàn bộ vùng Định

Tường, trong đó tiểu hạm L'Espérance (Hy Vọng) được ví như một "pháo đài nổi" án ngữ tại vàm

Nhựt Tảo (nay thuộc tỉnh Tây Ninh). Con tàu bọc đồng hiện đại này được trang bị đại bác và lực

lượng lính tinh nhuệ nhằm ngăn chặn sự liên lạc giữa các đạo nghĩa quân. Nhận thấy không thể

đánh trực diện bằng hỏa lực thô sơ, Nguyễn Trung Trực đã triển khai một kế hoạch tác chiến vô

cùng mưu lược và táo bạo.

Sáng ngày 10/12/1861, ông cho một toán nhỏ nghĩa binh quấy phá nghi binh cách nơi tàu đậu

khoảng 2km để nhử trung úy Parfait – chỉ huy tàu – dẫn quân đi truy quét. Khi lực lượng trên tàu

mỏng yếu và chủ quan, Nguyễn Trung Trực cùng 59 nghĩa dũng cảm tử đã cải trang thành một

đoàn ghe rước dâu áp sát mạn tàu. Khi lính Pháp còn đang bàng hoàng kiểm tra giấy tờ, nghĩa

quân đồng loạt rút vũ khí giấu trong người, tràn lên boong tàu tiêu diệt địch trong chớp nhoáng.

Nghĩa quân đã tiêu diệt 17 lính Pháp cùng hàng chục lính tập, sau đó chất củi đốt cháy tàu. Con

tàu "Hy Vọng" nổ tung và chìm xuống lòng sông Vàm Cỏ Đông, đánh dấu lần đầu tiên một chiến

hạm hiện đại của Pháp bị đánh bại bởi phương thức tác chiến bất đối xứng của dân chài áo vải.

Chiến thắng Nhựt Tảo không chỉ là một thắng lợi quân sự mà còn gây chấn động tâm lý cực lớn

đối với quân viễn chinh Pháp, khiến họ phải thừa nhận đây là một "biến cố bi thảm". Ngược lại,

đối với nhân dân ta, trận đánh như một "khúc nhạc dạo đầu" khơi dậy niềm tin và sức mạnh

kháng chiến khắp Nam Bộ. Vua Tự Đức đã đặc biệt khen ngợi chiến công này, phong chức cho

Nguyễn Trung Trực và ban thưởng 1.000 quan tiền cho nghĩa binh.

III. Những di vật khảo cổ và minh chứng lịch sử tại Tây Ninh

Một trong những bằng chứng đanh thép nhất cho chiến thắng Nhựt Tảo chính là hệ thống hiện vật

được trục vớt từ đáy sông sau hơn một thế kỷ. Năm 1980, các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật

lòng sông Nhựt Tảo tại vùng đất nay thuộc tỉnh Tây Ninh và thu thập được 89 hiện vật quan

trọng.

Hệ thống hiện vật bao gồm 78 hiện vật gỗ (như khung tàu, be, cột buồm), 8 hiện vật sắt, 2 hiện

vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Đặc biệt, những mảnh gỗ bọc đồng mang vết cháy loang lổ vẫn

còn hiện hữu, giúp tái dựng lại quy mô và kỹ thuật của con tàu L'Espérance cũng như độ khốc liệt

của trận hỏa công năm xưa. Hiện nay, các di vật quý giá này được lưu giữ và trưng bày trang

trọng tại Bảo tàng, trở thành "nhân chứng vật chất" sống động cho trí tuệ và lòng dũng cảm của

nghĩa quân Nguyễn Trung Trực. Vàm Nhựt Tảo cũng đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc

gia, trở thành địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

IV. Kiếm bạt Kiên Giang và những ngày đêm lẫy lừng

ế ắ ế ề

Sau chiến thắng Nhựt Tảo, Nguyễn Trung Trực tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân gây nhiều thiệt hại

cho giặc trên rạch Tra và các vùng lân cận. Năm 1867, khi ba tỉnh miền Tây rơi vào tay Pháp, ông

không chấp nhận rút quân theo lệnh triều đình mà đưa lực lượng về lập căn cứ tại Hòn Chông và

mật khu Sân Chim để tiếp tục kháng chiến.

Đỉnh cao tiếp theo là trận đánh chiếm đồn Kiên Giang vào đêm 16/6/1868. Đây là một chiến dịch

tập kích đô thị điển hình, minh chứng cho tài năng binh vận xuất sắc của Nguyễn Trung Trực.

Ông đã khéo léo sử dụng hai chị em sinh đôi người Khmer là Thạch Thị Son và Thạch Thị Sên để

làm trinh sát, nắm bắt toàn bộ sơ đồ và quy luật sinh hoạt của quân địch. Lúc 4 giờ sáng, nghĩa

quân bất ngờ đột kích, tiêu diệt trưởng đồn Sauterne và gần 70 lính Pháp khi chúng còn đang ngủ

say. Nghĩa quân làm chủ tỉnh lỵ Rạch Giá trong suốt 6 ngày đêm, gây kinh hoàng cho giới cầm

quyền Pháp lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, do sự chênh lệch quá lớn về hỏa lực và quân Pháp liên tục điều viện binh từ Vĩnh

Long, Mỹ Tho sang, Nguyễn Trung Trực phải rút quân ra đảo Phú Quốc để bảo toàn lực lượng.

Tại đây, ông đã áp dụng kế "đa quân" với các bù nhìn và toán quân nhỏ di động liên tục để đánh

lừa quân Pháp, kéo dài cuộc chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn.

V. Lời thề bất tử và khí tiết người anh hùng dân chài

Thực dân Pháp, sau nhiều lần thất bại, đã dùng những thủ đoạn đê hèn nhất như bắt mẹ của ông

và hàng trăm dân lành làm con tin để uy hiếp. Đứng trước sự lựa chọn giữa sự sống cá nhân và

tính mạng của đồng bào, người con hiếu thảo và vị chủ tướng nhân từ Nguyễn Trung Trực đã

quyết định ra đương đầu với giặc vào ngày 19/9/1868.

Kẻ thù đã dùng mọi chức tước, lộc trọng để dụ dỗ ông quy thuận, nhưng ông chỉ khảng khái đáp

lại bằng một câu nói thép: "Tôi muốn làm một chức thôi, chức gì mà có quyền chặt đầu tất cả

bọn Tây xâm lược...". Ngày 27/10/1868, thực dân Pháp đưa ông ra pháp trường tại Rạch Giá để

hành quyết. Người dân Tà Niên đã trải xuống đất một chiếc chiếu hoa có chữ "thọ" màu đỏ tươi

cho ông bước đứng giữa. Trước phút ra đi, ông yêu cầu không bịt mắt để nhìn đất nước lần cuối

và dõng dạc tuyên bố lời thề đã đi vào sử sách:

"Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

Lời tuyên ngôn ấy không chỉ là lời khẳng định ý chí bất khuất mà còn là một triết lý sâu sắc về

sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Cỏ nước Nam như lòng yêu nước, rễ bám sâu vào lòng

đất, không bao giờ có thể bị tận diệt bằng vũ lực ngoại bang.

VI. Di sản và sự "Thánh hóa" trong lòng dân tộc

Nguyễn Trung Trực hy sinh khi mới tròn 30 tuổi, nhưng cuộc đời ông đã trở thành một huyền

thoại bất tử. Sau khi ông thọ tử, nhân dân Nam Bộ đã bí mật thờ ông như một vị anh hùng trong

các đình, chùa. Vua Tự Đức sau này cũng đã sắc phong ông làm Thượng Đẳng Linh Thần, thờ tại

làng Vĩnh Thanh Vân.

Tượng anh hùng Nguyễn Trung Trực được đúc bằng đồng tại Đình thờ Rạch Giá

Hiện nay, có gần 20 đền thờ Nguyễn Trung Trực trải dài khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu

Long, từ Tây Ninh (quê hương Nhựt Tảo) đến tận mũi Cà Mau.

Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo - Đền thờ anh hùng Nguyễn Trung Trực

Đối với ngư dân và người dân phương Nam, ông không chỉ là một vị tướng mưu lược mà đã trở

thành vị "thần bảo hộ" che chở cho những chuyến biển bình an và sự thịnh vượng của xóm làng.

Lễ dâng hương Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực năm 2020 tại Rạch Giá.

Dòng họ của ông sau trận Nhựt Tảo đã phải đổi họ, di tản khắp nơi để tránh sự truy sát của giặc.

Theo truyền ngôn "bảy ghe sáu gánh họ", gia tộc ông đã xuôi về vùng Đầm Dơi, Cà Mau để tiếp

tục khai phá đất mới. Ngày nay, hàng ngàn hậu duệ của ông vẫn đang sinh sống và phát huy

truyền thống yêu nước của cha ông trên khắp dải đất phương Nam.

Người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng ngọn lửa từ trận

Nhựt Tảo trên mảnh đất Tây Ninh năm xưa và lời thề bất hủ tại pháp trường Rạch Giá vẫn luôn

rực cháy. Ông là minh chứng cho việc lòng yêu nước không phân biệt địa vị, chỉ cần mang dòng

máu Việt, mỗi người dân đều có thể trở thành một pháo đài ngăn bước quân thù. Di sản của ông –

tinh thần "trung thành và ngay thẳng" – sẽ mãi là kim chỉ nam cho các thế hệ người Việt trong

công cuộc bảo vệ và xây dựng tổ quốc hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn