Bài viết

Nguyễn Trung Trực - người anh hùng dân chài áo vải

Nguyễn Trung Trực, người anh hùng dân chài áo vải

Tây Ninh21/04/2026Đoàn trường Cao đẳng Long An (Đoàn Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nổi tiếng với câu nói bất hủ “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”, anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực - thủ lĩnh nghĩa quân đầu tiên đánh chìm một tiểu hạm của giặc phương Tây trên sông Nhật Tảo năm 1861, vẫn luôn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Đặc biệt, lễ giỗ ông ngày nay trở thành ngày trọng đại của nhân dân Việt Nam, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và tấm lòng thành kính của con cháu hậu duệ đối với vị nhân sĩ nặng lòng yêu nước, thương dân, có công lao to lớn trong sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1838 - 1868), tên thật là Nguyễn Văn Lịch, khi tham gia nghĩa quân thường được gọi là Quản Chơn, Quản Lịch. Ông sinh năm Mậu Tuất (1838) tại làng Bình Nhựt, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An); nguyên quán của ông ở xóm Lưới, làng Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).

Thời còn trẻ, ông giỏi cả văn và võ, nhưng nổi bật nhất là võ nghệ. Năm 16 tuổi đã tỉ thí võ đài ở địa phương. Do tính tình ngay thẳng, chính trực, ông được thầy của mình đặt tên là Trung Trực. Là một thanh niên nghĩa hiệp, sớm có lòng yêu nước, nên Nguyễn Trung Trực sớm có tư tưởng kháng Pháp. Từ đó danh tiếng của ông ngày càng lẫy lừng, chẳng những về võ nghệ mà cả về đức độ, sự thông minh, khẳng khái.

Tháng 2 năm 1859, quân Pháp tiến đánh Gia Định, mở màn xâm chiếm Nam Kỳ. Nguyễn Trung Trực đứng lên lập đội dân dũng và được nhiều người hưởng ứng. Ông gia nhập nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo và sớm bộc lộ tài năng, đức độ của một thủ lĩnh xuất sắc trong hàng ngũ nghĩa quân, được Trương Định trọng dụng, cho làm Quyền sung Quản binh đạo. Ông được giao chỉ huy một bộ phận nghĩa quân hoạt động ở vùng Tân An, đã lập được nhiều công trạng, tiêu biểu như trận: đốt cháy và làm chìm tàu L'Espérance (tàu “Hy vọng”) trên vàm Nhựt Tảo (thuộc tỉnh Long An) vào ngày 10/12/1861. Tiếp đó, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân tấn công một tiểu hạm khác của Pháp trên Rạch Tra (Gò Công).

Text Box: Mô hình tái hiện trận chiến Nhựt Tảo năm 1861 tại Khu Di tích Vàm Nhựt Tảo

Sau trận đánh này, Nguyễn Trung Trực lãnh đạo nghĩa quân chống giặc trên khắp mặt trận miền Đông, miền Tây Nam Bộ, lập nên nhiều chiến công oanh liệt, tiêu biểu là trận đánh chiếm đồn Kiên Giang, làm chủ trung tâm đầu não địch trong 5 ngày, rồi rút ra Phú Quốc, lập căn cứ chống Pháp lâu dài.

Với trận Nhật Tảo ông là người cầm quân đầu tiên ở Việt Nam tiêu diệt “pháo đài nổi” của quân đội Pháp. Sau đó, Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân của ông còn lập nhiều chiến công khác khiến thực dân Pháp rất khiếp sợ.

Năm 1867, Nguyễn Trung Trực được phong chức Hà Tiên thành thủ úy, song chưa kịp đến nơi thì thành Hà Tiên rơi vào tay quân Pháp. Không trở về Hà Tiên, ông về Hòn Chông, mở rộng địa bàn hoạt động về vùng U Minh, kết giao với nhiều nhân sĩ yêu nước để củng cố lực lượng, tìm cách tiếp tục tấn công quân Pháp.

Với ý định đánh đồn Kiên Giang, Nguyễn Trung Trực tập hợp nghĩa quân ở Tà Niên, thuộc làng Vĩnh Hòa Hiệp, cách trung tâm Rạch Giá khoảng 10 km. Một mặt, ông cho người thâm nhập vào trung tâm Rạch Giá để nắm bắt tình hình phòng bị của quân Pháp, mặt khác ông khuyến dụ một số lính Mã tà trong đồn Kiên Giang để làm nội ứng.

Đêm 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân từ Tà Niên men theo bờ biển, đổ bộ lên cạnh Lăng Ông, đến gần sáng thì tấn công đồn Kiên Giang. Quân Pháp không kịp phản ứng, nhiều tên bị giết ngay trên giường ngủ, 5 tên lính trốn khỏi đồn nhưng đều bị bắt lại khi đang tìm cách qua sông tẩu thoát. Trong trận đánh này, rất nhiều quân địch bị giết và bắt sống, gồm: Chủ tỉnh Chánh Phèn, 5 sỹ quan Pháp, 67 lính và quan chức người Việt làm việc cho Pháp, bắt sống 6 tên, đoạt hơn 100 khẩu súng và một kho đạn.

Ngày 21 tháng 6 năm 1868, quân Pháp phản công, chiếm được Sóc Suông và chuẩn bị tái chiếm đồn Kiên Giang. Trước tình hình đó, Nguyễn Trung Trực phải cho quân lui về Hòn Chông (nay thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang), rồi ra đảo Phú Quốc lập thêm căn cứ chống Pháp.

Ngày 19 tháng 9 năm 1868, thực dân Pháp bắt được Nguyễn Trung Trực. Chúng tìm cách phủ dụ ông qui thuận nhưng bất thành, vì vậy ngày 27 tháng 10 năm 1868, chúng đưa ông ra chợ Rạch Giá hành hình.

Tranh vẽ Nguyễn Trung Trực thọ hình tại Rạch Giá, trưng bày tại Khu Di tích Vàm Nhựt Tảo, Long An.

Text Box: Tranh vẽ Nguyễn Trung Trực thọ hình tại Rạch Giá, trưng bày tại 
Khu Di tích Vàm Nhựt Tảo

Hay tin Nguyễn Trung Trực bị xử chém, người dân Tà Niên, nơi nổi tiếng với nghề dệt chiếu, đã ngày đêm dệt chiếc chiếu hoa có in chữ “Thọ” để đón bước ông về đất mẹ. Trước khi bị hành quyết, Nguyễn Trung Trực đã hiên ngang, khẳng khái mà nói lớn “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”

Câu nói bất hủ của ông được tạc vào phiến đá đặt cạnh ngôi mộ. Ảnh: Lục Tùng

Sau khi ông tử tiết, dưới triều vua Tự Đức, triều đình đã sai người thám báo, tìm hiểu sự trạng của Nguyễn Trung Trực. Châu bản triều Tự Đức ngày mồng 6 tháng 2 năm Tự Đức 24 (1871) có ghi chép rằng “Viện Cơ mật trích tư: Ngày tháng 12 năm ngoái, bản viện có làm phiếu đem mật tư của quý chức cùng tờ bẩm trình tình hình thám báo, tổng là 8 trang, trình lên. Vâng được Châu phê: Cứu xét lại cho rõ ràng, bọn Nguyễn Trung Trực gồm 2 tên ( Nguyễn Trung Trực, Hồ Huân Nghiệp) sự trạng thế nào, xuất thân là gì, đã từng làm quan chưa, theo người nào, làm việc gì, chết ngày nào, có thể biết rõ ràng được không, đều phúc trình lên…”. Việc triều đình tìm hiểu sự trạng của Nguyễn Trung Trực là nhằm để báo ân “ …Lại căn cứ Nguyễn Hữu Huân kể lại Hồ Huân Nghiệp cùng với quan Tây tranh luận, Nguyễn Văn Kiểng bí mật ghi chép Nguyễn Trung Trực và Trần Văn Diệu, Lâm Ky, Dương Thuyên, Nguyễn Văn Điền. Tất cả họ đều tử tiết, sự trạng đều giữ nghĩa quyên thân, thật đáng thương xót! Tháng 8 năm nay, thần viện biết tin kính theo lời phê làm lễ tế những người Nam Trung tuẫn nghĩa, tưởng cũng phần nào an ủi. Lại kính phụng Châu phê, trong đó có khoản: chờ khi có cơ hội tra cứu truy lục lại đầy đủ báo đền hậu đãi. Khâm thử.”

https://archives.org.vn:2001/files/ecm/source_files/2025/04/27/hihiii-102619-270425-38.jpg

Tờ Tư của viện Cơ mật ngày mồng 6 tháng 2 năm Tự Đức 24 (1871) về sự trạng của Nguyễn Trung Trực

Mộ Anh hùng Nguyễn Trung Trực nằm dưới tán cây đa cổ thụ trong khuôn viên di tích. Ảnh: Lục TùngAnh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực đã hy sinh oanh liệt vì dân, vì nước. Tấm gương bất khuất và khí phách hiên ngang của ông đã góp phần hun đúc lòng yêu nước, ý chí quật khởi, kiên cường chống giặc ngoại xâm của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, không chỉ ở thành phố Rạch Giá, mà nhiều nơi trong cả nước cũng có hàng chục ngôi đền thờ Nguyễn Trung Trực. Nhiều gia đình còn lập bàn thờ Nguyễn Trung Trực tại nhà riêng như thờ ông bà, cha mẹ mình để tưởng nhớ công ơn của ông và làm chỗ dựa tinh thần cho gia đình. Với sức lan tỏa ngày càng sâu rộng, lễ giỗ người anh hùng Nguyễn Trung Trực đã được nâng lên thành lễ hội truyền thống.

Huyền thoại về lòng yêu nước của Nguyễn Trung Trực đến nay vẫn được hậu thế ca tụng, tôn thờ. Không chỉ ở thành phố Rạch Giá, nhiều nơi trong cả nước đã dựng đền thờ ông, lễ giỗ người anh hùng Nguyễn Trung Trực cũng trở thành lễ hội truyền thống vào ngày 26 đến ngày 28 tháng 8 âm lịch hàng năm.

Ảnh và linh vị Nguyễn Trung Trực được thờ giữa chính điện. Ảnh: Lục Tùng

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn