Bài viết

NGUYỄN TRUNG TRỰC - NGƯỜI ANH HÙNG ĐẤT NAM BỘ

Giữa những năm tháng Nam Kỳ chìm trong khói lửa khi thực dân Pháp từng bước mở rộng cuộc xâm lược, từ một người dân chài bình dị, Nguyễn Trung Trực đã trở thành thủ lĩnh nghĩa quân

06/10/2026Đoàn phường Phú Nhuận (Phường Phú Nhuận)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN TRUNG TRỰC - NGƯỜI ANH HÙNG ĐẤT NAM BỘ

Năm sinh - mất: 1838 - 1868

Quê quán: Bình Nhật, huyện Cửu An, phủ Tân An, nay thuộc tỉnh Long An

Danh hiệu: Anh hùng dân tộc

Giữa những năm tháng Nam Kỳ chìm trong khói lửa khi thực dân Pháp từng bước mở rộng cuộc xâm lược, từ một người dân chài bình dị, Nguyễn Trung Trực đã trở thành thủ lĩnh nghĩa quân khiến quân Pháp phải khiếp sợ. Hai chiến công trên sông Nhật Tảo và tại đồn Kiên Giang đã đưa tên tuổi ông trở thành biểu tượng của phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ. Nhưng điều khiến người đời nhớ mãi về ông không chỉ là những trận đánh, mà còn là khí phách của một con người dù đứng trước cái chết vẫn nhất quyết không khuất phục.

Tượng Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực uy nghi.

(Nguồn: Báo Lao động)

N

guyễn Trung Trực sinh năm 1838, tên thật là Nguyễn Văn Lịch, trong một gia đình làm nghề chài lưới ở vùng Tân An. Sinh ra giữa miền sông nước Nam Bộ, ông sớm quen với những con sông, con rạch chằng chịt và cuộc sống của người dân lao động. Từ nhỏ, ông được biết đến là người khỏe mạnh, có võ nghệ và đặc biệt cương trực. Có lẽ chính vùng đất ấy đã nuôi dưỡng trong ông một tính cách mạnh mẽ, thẳng thắn và gần gũi với nhân dân – những phẩm chất sau này trở thành dấu ấn trong cuộc đời người thủ lĩnh nghĩa quân.

Năm 1859, thực dân Pháp nổ súng tấn công Gia Định, mở đầu cho quá trình xâm lược Nam Kỳ. Khi quân Pháp từng bước mở rộng vùng chiếm đóng, cuộc sống của người dân Nam Bộ bị đảo lộn. Nguyễn Văn Lịch khi ấy còn trẻ nhưng đã cùng nhân dân tham gia chống giặc. Năm 1861, sau khi quân Pháp chiếm được thành Gia Định, cuộc kháng chiến của người dân Nam Bộ ngày càng chuyển sang hình thức nghĩa quân. Những người nông dân, dân chài, thợ thủ công… tập hợp lại, dựa vào địa hình sông nước để chống lại quân xâm lược có ưu thế về vũ khí và phương tiện chiến tranh. Trong số những người đứng lên ấy, Nguyễn Văn Lịch dần trở thành một thủ lĩnh được nghĩa quân tin tưởng và nhân dân ủng hộ.

Ngày 10 tháng 12 năm 1861, tên tuổi Nguyễn Trung Trực bắt đầu vang lên sau một trận đánh làm quân Pháp bất ngờ. Trên vàm Nhật Tảo, một chiến hạm mang tên L’Espérance của quân Pháp đang hoạt động trên tuyến đường thủy quan trọng. Nguyễn Trung Trực nhận thấy đây là mục tiêu có thể tấn công bằng cách tận dụng địa hình sông nước và yếu tố bất ngờ. Ông cùng nghĩa quân chuẩn bị những chiếc thuyền nhỏ, tổ chức cải trang để tiếp cận chiến hạm. Khi khoảng cách đã đủ gần, nghĩa quân bất ngờ tấn công. Trận chiến diễn ra quyết liệt, nhưng trước sự bất ngờ của đối phương, quân Pháp không kịp chống trả hiệu quả. Cuối cùng, chiếc L’Espérance bị nghĩa quân đốt cháy và chìm xuống dòng sông Nhật Tảo.

Đối với một lực lượng nghĩa quân chủ yếu gồm những người dân địa phương, việc đánh chìm một chiến hạm của quân Pháp là một chiến công đặc biệt táo bạo. Tin chiến thắng nhanh chóng lan rộng, trở thành nguồn cổ vũ lớn đối với phong trào kháng chiến ở Nam Bộ. Từ một thủ lĩnh nghĩa quân, Nguyễn Trung Trực ngày càng trở thành cái tên khiến quân Pháp phải dè chừng. Nhưng ông không dừng lại ở chiến công Nhật Tảo. Trong những năm tiếp theo, ông tiếp tục tập hợp lực lượng, di chuyển qua những vùng sông nước và dựa vào sự che chở của nhân dân để duy trì cuộc chiến. Quân Pháp nhiều lần tổ chức truy quét, nhưng nghĩa quân vẫn tìm cách chống trả bằng những cuộc tập kích bất ngờ.

Đầu năm 1868, sau nhiều năm chiến đấu, Nguyễn Trung Trực đưa lực lượng về vùng Rạch Giá. Tại đây, ông quyết định thực hiện một cuộc tấn công táo bạo vào đồn Kiên Giang – một cứ điểm quan trọng của quân Pháp. Ngày 16 tháng 6 năm 1868, nghĩa quân bất ngờ tiến công. Cuộc tấn công diễn ra nhanh chóng khiến quân Pháp không kịp trở tay. Nghĩa quân chiếm được đồn và làm chủ tỉnh lỵ Rạch Giá trong một thời gian. Một lần nữa, người thủ lĩnh áo vải lại chứng minh rằng dù không có quân đội chính quy và vũ khí hiện đại, nghĩa quân vẫn có thể tạo ra những đòn đánh khiến đối phương phải kinh ngạc.

Nhưng quân Pháp không để chiến thắng ấy kéo dài. Chúng nhanh chóng điều lực lượng đến phản công với quân số và vũ khí vượt trội. Nghĩa quân phải rút lui, Nguyễn Trung Trực tiếp tục đưa lực lượng về vùng Hà Tiên và Phú Quốc để tìm cách duy trì cuộc kháng chiến. Trong lúc lực lượng ngày càng gặp nhiều khó khăn, quân Pháp ráo riết truy bắt ông. Cuối cùng, Nguyễn Trung Trực bị bắt.

Đứng trước người thủ lĩnh đã nhiều lần khiến quân Pháp tổn thất, chính quyền thực dân tìm cách mua chuộc và dụ dỗ ông đầu hàng. Nhưng những lời hứa hẹn không thể lay chuyển được người chiến sĩ đã dành trọn cuộc đời ngắn ngủi cho cuộc chiến chống ngoại xâm. Nguyễn Trung Trực không chọn con đường sống bằng cách phản bội nghĩa quân và nhân dân. Ông chấp nhận cái chết.

Ngày 27 tháng 10 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bị xử tử tại Rạch Giá. Ông ra đi khi mới khoảng 30 tuổi. Một cuộc đời ngắn ngủi khép lại, nhưng những gì ông để lại thì không kết thúc cùng ngày hành hình. Trong ký ức của nhân dân, Nguyễn Trung Trực trở thành hình ảnh của một người anh hùng xuất thân từ nhân dân, chiến đấu vì nhân dân và chết cũng không khuất phục trước kẻ thù.

Người đời sau thường nhắc đến câu nói được truyền tụng gắn với ông trước lúc hy sinh: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam, mới hết người Nam đánh Tây.” Câu nói mộc mạc nhưng mạnh mẽ ấy đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người dân Nam Bộ. Dù câu nói được ghi chép qua nhiều nguồn với cách diễn đạt khác nhau, ý nghĩa mà nó để lại vẫn rất rõ ràng: chừng nào đất nước còn bị xâm lược, tinh thần chống ngoại xâm của người Việt vẫn chưa thể bị dập tắt.

Sau khi Nguyễn Trung Trực hy sinh, nhân dân Nam Bộ vẫn tiếp tục tưởng nhớ ông. Những nơi ông từng chiến đấu trở thành những địa danh gắn với ký ức về cuộc kháng chiến. Đặc biệt, đình thần Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá trở thành nơi nhân dân thường xuyên đến dâng hương tưởng niệm. Từ một người thủ lĩnh nghĩa quân của thế kỷ XIX, Nguyễn Trung Trực dần trở thành một biểu tượng văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Lễ hội tưởng niệm ông tại Rạch Giá thu hút đông đảo người dân, và Lễ hội Đình thần Nguyễn Trung Trực đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Nguyễn Trung Trực hy sinh, nhưng câu chuyện về ông vẫn được kể lại trên mảnh đất Nam Bộ. Người ta nhớ đến ông qua những con sông, những địa danh từng ghi dấu cuộc chiến, qua những nén hương trong ngày giỗ và qua câu nói về “cỏ nước Nam” đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước. Nguyễn Trung Trực không phải một vị vua, cũng không xuất thân từ tầng lớp quyền quý. Ông bước vào lịch sử từ một người dân bình dị, cầm vũ khí đứng lên khi quê hương bị xâm lược, rồi dùng chính cuộc đời mình để chứng minh rằng lòng yêu nước có thể bắt đầu từ những con người rất đỗi bình thường.

Hai chiến công Nhật Tảo và Kiên Giang đã làm nên tên tuổi Nguyễn Trung Trực, nhưng điều khiến ông sống mãi trong lòng nhân dân lại chính là khí phách của một con người không chịu khuất phục. Cuộc đời ông chỉ kéo dài khoảng ba thập kỷ, nhưng câu chuyện về người anh hùng áo vải ấy đã vượt qua giới hạn của một đời người, trở thành một phần ký ức lịch sử và văn hóa của đất Nam Bộ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGUYỄN TRUNG TRỰC - NGƯỜI ANH HÙNG ĐẤT NAM BỘ | Câu chuyện thời hoa lửa