Nguyễn Trường Tộ - Khát vọng canh tân đất nước
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, mất ngày 22 tháng 11 năm 1871 là một danh sĩ, kiến trúc sư và nhà cải cách xuất sắc nhất Việt Nam giữa thế kỷ XIX. Ông sinh ra tại làng Bùi Chu (xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) trong một gia đình Công giáo lâu đời, có cha là thầy thuốc Đông y nổi tiếng Nguyễn Quốc Thư. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán từ cha cùng các nhà nho trong vùng như Tú Giai, Cống Hữu, và sớm nổi tiếng thông minh, hiếu học nên được người dân ưu ái gọi là "Trạng Tộ". Tuy nhiên, do xuất thân Công giáo cùng chính sách thi cử khắt khe của triều Nguyễn, ông không tham dự các kỳ thi khoa bảng chính thống mà mở trường dạy chữ Hán tại nhà, sau đó chuyển sang dạy ở Nhà chung Xã Đoài. Chính tại đây, ông được Giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) trực tiếp dạy tiếng Pháp cùng những tri thức tân tiến về khoa học - kỹ thuật, địa lý và chính trị phương Tây, đặt nền móng quan trọng cho tư tưởng canh tân đất nước sau này.
Nửa sau thế kỷ XIX, tình cảnh đất nước rối ren về chính trị xã hội quan lại hủ bại, triều đình Huế tồn động nhiều mâu thuẫn nội tại với nông dân, mang nặng tư tưởng phong kiến bảo thủ với nhiều chính sách cực đoan, nền kinh tế sa sút, đời sống nhân dân kiệt quệ, hạn chế tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật phương Tây, quân sự trang thiết bị bỏ bê thiếu cải tiến dần lạc hậu, đồng thời thực thi các chỉ dụ cấm đạo Công giáo gay gắt. Chính sự khép kín và mâu thuẫn nội bộ này không chỉ làm suy giảm quốc lực mà còn tạo cơ hội để thực dân Pháp mở đầu xâm lược Việt Nam. Từ những ngày đầu Pháp nổ súng xâm lược nhân dân ta đã đứng lên chống trả quyết liệt, sôi nổi tiêu biểu những ngọn cờ đầu ở miền Nam kỳ lục tỉnh như là Trương Định, Nguyễn Trung Trực,... sau đó dần thoái trào. Trước nguy cơ nước mất nhà tan cùng sự bế tắc của tư tưởng Nho giáo bảo thủ, cuộc đấu tranh vũ trang dù mạnh mẽ nhưng chưa mang đến ngọn gió mới cho đất nước yêu cầu canh tân đất nước để tự cường trở nhem nhóm xuất hiện. Bối cảnh lịch sử đầy biến động đó đã trực tiếp thúc đẩy sự hình thành trào lưu cải cách canh tân đất nước, mà Nguyễn Trường Tộ là đại biểu xuất sắc nhất với các bản Điều trần của kẻ sĩ yêu nước lúc bấy giờ.
Tiếp thu tri thức Tây phương từ rất sớm
Từ sớm ông đã có được cơ duyên với Giám mục Gauthier đưa sang Paris (Pháp) và Roma (Ý) vào những năm 1858 đến 1861 đã đánh dấu những quyết định trong cuộc đời Nguyễn Trường Tộ. Đặt chân đến châu Âu đúng thời kỳ Cách mạng Công nghiệp phát triển rực rỡ, ông không khỏi ngỡ ngàng trước những đô thị sầm uất, sự kỳ diệu của máy móc cơ khí cùng một xã hội vận hành khoa học và văn minh. Trực tiếp quan sát và trải nghiệm thực tiễn phương Tây đã hoàn toàn giải phóng ông khỏi những giới hạn của lăng kính Nho giáo đóng kín, giúp ông xác lập một tư duy thực chứng và tư tưởng hiện đại hóa sâu sắc. Với tinh thần cầu thị và trí tuệ nhạy bén, ông đã nỗ lực hấp thụ những tri thức tân tiến trên nhiều lĩnh vực
Trong hành trình xuất dương sang phương Tây, Nguyễn Trường Tộ đã chủ động tiếp thu khối lượng tri thức vô cùng đồ sộ. Ông say mê nghiên cứu các thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến thời bấy giờ như phương pháp khai khoáng, kỹ thuật đúc súng chế tạo vũ khí, công nghệ xây dựng bằng bê tông, cùng các phương pháp thủy lợi hiện đại như đắp đê và đào kênh điều tiết dòng chảy. Bên cạnh kỹ thuật, ông còn đào sâu tìm hiểu về thể chế xã hội, từ mô hình tổ chức bộ máy chính quyền, quản lý dân số, hệ thống tài chính - thuế khóa minh bạch cho đến nền giáo dục, y tế và hệ thống luật pháp hiện đại của các nước châu Âu. Đặc biệt, việc thấu suốt bản thành tựu phương Tây và tri thức của thời đại đã giúp ông nhận ra rằng muốn giữ vững nước nhà vượt qua khởi quốc nạn thì không thể đóng cửa hay chỉ dựa vào lòng can đảm thuần túy, mà phải nhanh chóng tự cường bằng con đường phát triển nội lực
Những chứng kiến mắt thấy tai nghe cùng nguồn tri thức mới mẻ ấy đã thắp lên trong lòng Nguyễn Trường Tộ một khát vọng canh tân cháy bỏng. Khát vọng canh tân luôn thôi thúc ông dành trọn phần đời còn lại dốc hết tâm huyết thay mới giúp dân, giúp nước.
Khát vọng canh tân đất nước và Bản điều trần dâng vua Tự Đức
Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, Pháp mở rộng đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông 1863 đến 1871, vận nước nguy nan với triều đình Huế tỏ ra bất lực, nội bộ chia rẻ, mất phương hướng bế tắc tìm ra đối sách chống giặc
"Triều đình bàn việc tựa đánh cờ,
Nước cờ lúng túng lại loay hoay.
Hòa hay chiến nữa còn ngơ ngác,
Hỏi đến quan quân chỉ thở dài."
Nguyễn Trường Tộ không hổ là một kẻ sĩ hết sức hết lòng vì nước nhà đã kiên trì tấu lên triều đình Tự Đức hơn 30 bản Điều trần và Di thảo. Ông đã trực tiếp dâng các văn bản cải cách này thông qua sự chuyển giao của các quan lại tiến bộ hoặc tự mình dâng nộp trong những lần được triều đình triệu dâng về kinh đô Huế. Hệ thống di thảo này (tiêu biểu như Tế cấp luận, Biển học luận, Giáo môn luận, Thiên hạ phân hợp đại thế luận...) chính là nơi kết tinh tập trung tư tưởng và hoài bão canh tân đất nước của ông, xoay quanh các nội dung cột cốt lõi:
Về chính trị và xã hội: Ông muốn thay đổi tư tưởng quan liêu, cổ hủ nho giáo và sự quản lý nhà nước bằng đạo đức suông hay cảm tính cá nhân để hướng tới một bộ máy pháp quyền hiện đại. Trong bản Biển học luận, ông nhấn mạnh quan lại phải trị quốc bằng pháp luật, dân chúng sống theo luật, thậm chí vua cũng không được đoán phạt ai theo ý mình nếu không có sự phê chuẩn của cơ quan tư pháp. Ông cũng đề xuất tinh giản bộ máy hành chính, thành lập các bộ chuyên trách (như Ngoại giao, Nông nghiệp) và thực thi chính sách đãi ngộ ngạch quan lại minh bạch để triệt tiêu tham nhũng.
Về kinh tế: Ông thay đổi lối mòn quan điểm "trọng nông ức thương" cùng chính sách "bế quan tỏa cảng" khép kín. Hướng đi của ông là phát triển nền kinh tế hàng hóa như phương Tây, thăm dò địa chất tìm ra các nguồn tài nguyên đa dạng, thác khoáng sản (đồng, than, sắt, vàng,...), mở các đồn điền, mở rộng giao thương trong và ngoài nước, đồng thời mở cửa biển thu thuế để tăng ngân sách. Ông đề xuất cải cách thuế khóa theo hướng giảm nhẹ phụ thu cho dân nghèo, đánh thuế nặng vào hàng xa xỉ phẩm, cờ bạc và người giàu để tạo sự công bằng.
Về giáo dục - văn hóa: Ông chủ trương thay thế lối học từ chương, khoa cử Nho học lỗi thời bằng một nền giáo dục thực nghiệp. Ông đề xuất dùng chữ Quốc ngữ để nâng cao dân trí, mở trường dạy các môn học phương Tây như địa lý, thiên văn, toán học, luật pháp, công nghệ chế tạo vũ khí và đóng tàu. Thông qua Giáo môn luận, ông đề xướng chính sách tự do tín ngưỡng nhằm hòa giải mâu thuẫn giữa đồng bào Công giáo và Nho giáo/Phật giáo, tạo dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Về Ngoại giao và Quốc phòng: thay đổi tư duy quân sự lối đánh giặc thuần túy bằng lòng quả cảm với gươm giáo thiếu kỹ thuật, ông đề xướng chiến lược ngoại giao thực dụng và quốc phòng tự cường. Trong Thiên hạ phân hợp đại thế luận, ông khuyên triều đình tạm hòa với Pháp để "hoãn binh", đồng thời mở cửa giao thiệp với các cường quốc khác (như Anh, Mỹ, Tây Ban Nha) nhằm tạo thế cân bằng lực lượng tận dụng mâu thuẫn từ các nước lớn, tranh thủ học hỏi từ họ. Quan trọng nhất, ông khẳng định canh tân nội lực chính là con đường duy nhất để "tự cường" — nền tảng cốt lõi để giữ vững độc lập dân tộc.
Hệ thống bản Điều trần đã phác thảo nên một con đường đi mới cho đất nước. Đánh dấu ngọn lửa duy tân cải cách, một sĩ phu cấp tiến đã mạnh dạn đề xuất một loạt cải cách mang ý nghĩa trọng đại đã thay đổi hoàn toàn tư duy giữ nước truyền thống. Ông khẳng định rằng muốn cứu nước, không thể dựa lòng quả gươm giáo nhưng truyền thống, mà phải phát triển nội lực tiếp thu khoa học kỹ thuật để trở nên giàu mạnh. Mở cửa và học hỏi phương Tây chính là con đường duy nhất để đất nước khỏi họa xâm lăng.
3 . Kẻ sĩ yêu nước dốc hết lòng trước thời cuộc suy vi
Ngược lại với sự nhiệt huyết hết lòng giúp sức cho nước nhà của Nguyễn Trường Tộ, triều đình Huế lại tỏ ra e ngại và thái độ thận trọng đối với các bản điều trần của xuất phát từ những nguyên nhân mang tính lịch sử, tư tưởng và chính trị phức tạp trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Trước hết, đối lập về hệ tư tưởng là rào cản lớn nhất. Triều đình Huế lấy Nho giáo làm tư tưởng độc tôn để cai trị, kế thừa từ nhiều triều đại trước mang nặng tính bảo thủ với một lực lượng phe phái bảo thủ không muốn cải cách theo hướng mới mà ra sức ngăn cẳn vua Tự Đức không nên nghe theo cải cách. Có phần mang tâm lý bá quyền đối với Ai Lao và Cao Miên, tâm lý kinh tế nặng đất phong nông nghiệp, thiếu đi nền kinh tế năng động. trong khi tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ lại mang nhiều màu sắc của khoa học, kỹ thuật và mô hình thể chế phương Tây. Việc áp dụng các đề xuất của ông đồng nghĩa với việc triều đình phải tự thay đổi gần như toàn diện cấu trúc quyền lực và trật tự xã hội truyền thống vốn đã bám rễ sâu xa. Về nghi kỵ đạo Công giáo, bản thân Nguyễn Trường Tộ là đạo Công giáo tạo nên một sự hoài nghi sâu sắc trong vua quan nhà Nguyễn. Là một trí thức Công giáo, từng du học và tiếp xúc với người Pháp, trong bối cảnh thực dân Pháp ra sức truyền đạo Ki tô và đang sử dụng tôn giáo làm cái cớ để xâm lược Việt Nam. Giới sĩ phu và quan lại phong kiến đương thời thường nhìn ông qua lăng kính e dè, lo sợ ông có sự liên đới hoặc "tiếp tay" cho lực lượng ngoại bang. Điều gây trở ngại lớn nhất là Việt Nam trong hoàn cảnh lúc đó đang bị chiến tranh xâm lược mất dần lục tỉnh Nam kỳ, quốc lực cạn kiệt sau nhiều năm hao tổn và phải bồi thường khoản chiến chí khổng lồ cho Pháp, lòng dân ly tán khi các chính sách của ông quá mới mẻ, dân không thể thích ứng một sớm một chiều được. Tâm lý tự vệ và khép mình của bộ máy cầm quyền trước nguy cơ mất nước, trước sức mạnh quân sự vượt trội của thực dân Pháp, triều đình Huế rơi vào trạng thái hoang mang, lúng túng và bị động chính tư tưởng Nho gia đã đưa Nhà Nguyễn lên vị trí nước lớn ở Đông Đương và cũng đã đưa họ làm mất nước, tự chấm dứt sứ mệnh của mình trước vận mệnh dân tộc đến năm 1883 và 1884 đã ký với Pháp hai bản hiệp chính thức đầu hàng hoàn toàn quyền tự quyết của mình. Đất nước chia làm ba kỳ, mất tên trên bản đồ thế giới chỉ còn là Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.
Cuộc đời của một nhà cải cách lỗi lạc nửa sau thế kỷ 19 Nguyễn Trường Tộ đã khép lại khi còn nhiều nuối tiếc cho một hoài bão chưa dốc lòng thực hiện được, nhưng di sản tư tưởng ông để lại đã trở thành một ngọn đuốc soi đường có tầm ảnh hưởng đến các sĩ phu cấp tiến đương thời như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch,... đang nổ lực cứu vãn thế cuộc giúp nước yêu cầu cải cách với triều đình Huế. Ngày 22 tháng 11 năm 1871 (tức ngày 10 tháng 10 năm Tân Mùi), ông trút hơi thở tại quê nhà Bùi Chu (xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) ở tuổi 41 vì căn bệnh hiểm nghèo, lao lực nhiều năm vì dốc hết tâm can giúp dân cứu nước. Những lúc ở quê nhà, ông vẫn miệt mài gọt giũa từng trang di thảo dâng lên nhà vua với khát vọng cứu quốc cháy bỏng. Sự ra đi của ông khi hoài bão "canh tân để tự cường" còn dang dở đã để lại một nỗi tiếc nuối khôn nguôi cho lịch sử dân tộc. Mặc dù không được Triều đình trọng dụng, nhưng lòng ông vẫn luôn hướng về, vẫn mong được phò vua, cứu dân. Tấm lòng ấy thể hiện rất rõ qua những bài thơ mà ông để lại: "Mặt trời cho dẫu không soi đến/Hướng dương xin vẫn nếp hoa quỳ" và ở hai câu thơ khác: "Ngụy Tào sống gửi Từ Nguyên Trực/Tần Lã không thờ Lỗ Trọng Tiên".
Dù không được triều đình Huế thực thi được nhiều, di sản hơn 30 bản Điều trần của Nguyễn Trường Tộ vẫn sừng sững như bản thiết kế hiện đại. Chính nguồn tri thức thực chứng vượt thời đại ấy đã trở thành ngọn lửa truyền cảm hứng mạnh mẽ cho ngọn gió Duy Tân đầu thế kỷ XX của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can đã tiếp thu và phát triển hơn nữa với tinh thần "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" biến thành hành động cải cách xã hội sâu rộng. Ông là ngọn cờ đi đầu cải cách phá vỡ nền tư tưởng Nho giáo phong kiến ngự trị ngai vàng hàng ngàn năm ở Việt Nam, chưa thành công nhưng những di sản, giá trị tư tưởng mà ông để cho tinh thần tự lực, tự cường, tư duy đổi mới và khát vọng vươn lên của quốc gia dân tộc.



