Bài viết

Nguyễn Trường Tộ – Người trí thức yêu nước với khát vọng canh tân đất nước

Gia Lai23/05/2026Đoàn xã Đức Cơ (Đoàn xã Đức Cơ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Trường Tộ – Người trí thức yêu nước với khát vọng canh tân đất nước

Nguyễn Trường Tộ – Người trí thức yêu nước với khát vọng canh tân đất nước

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX, Nguyễn Trường Tộ là một gương mặt đặc biệt. Ông không phải là người cầm quân nơi trận mạc, cũng không giữ chức vị lớn trong triều đình, nhưng tên tuổi của ông vẫn được nhắc nhớ như một trí thức yêu nước có tầm nhìn vượt thời đại, người đã đau đáu suốt đời với khát vọng canh tân đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh.

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830, mất năm 1871, quê ở làng Bùi Chu, nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình Công giáo, cha làm nghề thuốc Đông y. Tuy nhà nghèo, nhưng Nguyễn Trường Tộ sớm nổi tiếng thông minh, ham học, chăm chỉ và được nhân dân trong vùng truyền tụng là “Trạng Tộ”.

Năm 1855, cố đạo người Pháp Gauthier, tên Việt là Ngô Gia Hậu, mời Nguyễn Trường Tộ dạy chữ Hán cho Tu viện Xã Đoài, đồng thời dạy ông tiếng Pháp. Sau đó, ông có điều kiện đi Singapore, Hồng Kông, Rôma và Paris để học hỏi các môn khoa học thường thức, khoa học thực nghiệm cùng nhiều thành tựu văn minh phương Tây. Chính những chuyến đi ấy đã mở rộng tầm nhìn của Nguyễn Trường Tộ, giúp ông trở thành một trong những trí thức Việt Nam hiếm hoi thời bấy giờ được trực tiếp tiếp xúc với kỹ nghệ, khoa học, tổ chức xã hội và tư tưởng tiến bộ của phương Tây.

Khi bước vào tuổi 30, Nguyễn Trường Tộ đã có vốn hiểu biết rộng về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Nhưng điều đáng quý hơn cả là ông không giữ tri thức ấy cho riêng mình. Trong lòng ông luôn cháy bỏng một khát vọng: phải canh tân đất nước, phải làm cho quốc gia tự lực, tự cường, đủ sức đứng vững trước những biến động dữ dội của thời đại.

Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Sài Gòn trong bối cảnh thực dân Pháp đã chiếm Gia Định. Trong một thời gian ngắn, ông làm phiên dịch giữa triều Nguyễn và phía Pháp, với mong muốn góp phần vào việc thương nghị, giảm bớt tổn thất cho đất nước. Từ năm 1861 đến năm 1866, ông liên tiếp gửi cho triều đình Huế nhiều văn bản điều trần, đề xuất các kế sách canh tân, tự cường và phát triển đất nước.

Trong số đó, “Tế cấp luận” là văn bản đặc biệt quan trọng, thể hiện rõ nhất trí tuệ, tâm huyết và tầm nhìn của Nguyễn Trường Tộ. Ông coi đây là sự đúc kết tinh hoa tri thức nhiều thế kỷ, không phải chuyện có thể làm trong một sớm một chiều. Những điều ông đề xuất không phải là những ý tưởng rời rạc, mà là một hệ thống cải cách tương đối toàn diện, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc gia.

Về kinh tế, Nguyễn Trường Tộ cho rằng muốn cứu nước, giữ nước thì trước hết phải làm cho dân giàu, nước mạnh. Ông đề nghị triều đình mua sắm thuyền máy, cử người sang phương Tây học cách điều khiển và sửa chữa; khai thác mỏ, lập nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng, từng bước xây dựng nền công nghiệp trong nước.

Về nông nghiệp, ông đề cao việc cải tiến kỹ thuật, lập chức “nông quan” để phụ trách nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp ở địa phương; đồng thời phổ biến kiến thức nông nghiệp cho nhân dân. Với ông, phát triển nông nghiệp không chỉ là làm ra lương thực, mà còn là nền tảng để ổn định xã hội và nâng cao đời sống người dân.

Về thương nghiệp, Nguyễn Trường Tộ chủ trương mở rộng giao lưu hàng hóa, phát triển cả nội thương và ngoại thương, mở cửa thông thương, khai thác tiềm năng đất nước, khuyến khích xuất khẩu nông sản, lâm sản, hải sản và khoáng sản. Những tư tưởng ấy cho thấy ông đã sớm nhận ra vai trò của thương mại và hội nhập trong phát triển quốc gia.

Về tài chính, ông đề nghị đo đạc ruộng đất, kê khai dân số hằng năm để tránh thất thu, gian lận; xây dựng chính sách thuế công bằng, hợp lý; đánh thuế nặng vào sòng bạc, rượu, thuốc lá và hàng xa xỉ ngoại nhập để bảo vệ sản xuất trong nước. Những đề xuất đó thể hiện tư duy quản lý nhà nước hiện đại, chú trọng kỷ cương, minh bạch và lợi ích quốc gia.

Trên lĩnh vực chính trị, Nguyễn Trường Tộ đề nghị tinh giản bộ máy hành chính, sáp nhập một số tỉnh, huyện, tăng lương cho viên chức để hạn chế tiêu cực; vẽ bản đồ cương giới, điều tra dân số, thống kê mọi mặt đời sống đất nước. Ông cũng đề nghị lập thêm Bộ Nông nghiệp, Bộ Ngoại giao và nhấn mạnh tòa án phải có tính độc lập, nhà vua chỉ có quyền ân xá chứ không trực tiếp kết án.

Về quốc phòng, ông đề xuất tạm hòa với Pháp để củng cố lực lượng, tổ chức huấn luyện quân đội theo phương pháp mới, mời chuyên gia phương Tây hỗ trợ, chế tạo vũ khí mới và có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với quân đội. Đây là cách nhìn thực tế: muốn chống ngoại xâm hiệu quả, trước hết phải xây dựng thực lực quốc gia.

Về ngoại giao, Nguyễn Trường Tộ chủ trương tạm thời nhượng bộ Pháp để tranh thủ thời gian, đồng thời thiết lập quan hệ với nhiều nước khác, học hỏi kỹ thuật, mở rộng giao thương, tích lũy sức mạnh và chờ thời cơ giành lại thế chủ động. Đó là tư duy ngoại giao mềm dẻo, biết lùi để tiến, lấy tự cường làm nền tảng.

Về giáo dục, ông đề nghị đổi mới nội dung học tập, bổ sung ngoại ngữ, khoa học kỹ thuật, kiến thức thực dụng vào hệ thống giáo dục; gửi học sinh ra nước ngoài học tập; dùng quốc âm thống nhất, biên soạn từ điển và phổ biến trong nhân dân để dễ học, dễ hiểu. Đây là những đề xuất rất tiến bộ, thể hiện nhận thức sâu sắc rằng muốn đất nước phát triển thì phải bắt đầu từ giáo dục và dân trí.

Về văn hóa, xã hội, ông đề nghị lập nhà in, xuất bản sách báo để nâng cao trình độ dân trí; xây dựng nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh đường sá, thay đổi những luật lệ lạc hậu trong đời sống xã hội. Những ý tưởng ấy cho thấy Nguyễn Trường Tộ không chỉ quan tâm đến sức mạnh vật chất của quốc gia, mà còn chú trọng nâng cao trình độ văn hóa, ý thức và đời sống tinh thần của nhân dân.

Tuy nhiên, hầu hết những đề xuất canh tân của Nguyễn Trường Tộ đều không được triều đình sử dụng. Nguyên nhân không chỉ nằm ở bản thân các bản điều trần, mà chủ yếu do bối cảnh chính trị - xã hội lúc bấy giờ chưa đủ điều kiện để thực hiện cải cách. Triều đình nhà Nguyễn còn nặng tư tưởng thủ cựu, dè dặt trước cái mới, lúng túng trong việc xử lý vấn đề Nam Kỳ và thiếu quyết tâm cải cách mạnh mẽ. Bên cạnh đó, thân phận Công giáo của Nguyễn Trường Tộ trong bối cảnh đương thời cũng khiến ông chịu nhiều định kiến, làm cho các đề xuất của ông khó được tiếp nhận đầy đủ.

Cuộc đời Nguyễn Trường Tộ chỉ kéo dài 41 năm, nhưng tư tưởng và khát vọng của ông đã vượt xa thời đại. Qua 58 bản điều trần, ông đã để lại một di sản tư tưởng quý báu về canh tân đất nước, mở mang dân trí, phát triển kinh tế, đổi mới giáo dục, củng cố quốc phòng và mở rộng ngoại giao. Dù chưa thành hiện thực trong thời đại của ông, những đề xuất ấy vẫn cho thấy một tầm nhìn lớn, một trái tim yêu nước và một nỗi đau đáu sâu sắc trước vận mệnh dân tộc.

Nhìn lại Nguyễn Trường Tộ hôm nay, chúng ta càng trân trọng một trí thức dám nghĩ khác, dám nhìn xa, dám nói điều cần nói vì lợi ích quốc gia. Ông là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức yêu nước: học để mở mang dân trí, hiểu biết để phụng sự đất nước, tiếp thu văn minh nhân loại để làm cho dân tộc mình mạnh lên.

Nguyễn Trường Tộ đã ra đi khi khát vọng canh tân còn dang dở, nhưng tư tưởng của ông vẫn còn sức lay động đến hôm nay. Cuộc đời ông nhắc nhở các thế hệ sau rằng: muốn đất nước phát triển, phải biết đổi mới tư duy, mở rộng tầm nhìn, trọng dụng hiền tài, học hỏi tinh hoa nhân loại và luôn đặt vận mệnh dân tộc lên trên mọi lợi ích riêng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn