Nguyễn Tự Chính
Sinh ra tại Tuy Hòa nhưng gốc gác ở Khánh Hòa, Nguyễn Tự Chính lớn lên giữa hai miền ký ức biển xanh, cát trắng của quê cha và những năm tháng tập kết miền Bắc. Bạn bè gọi nhầm là “Tư Chính”, anh chỉ cười: “Càng tốt! Cho ra dáng người miền Nam!”.
Cuối những năm 60, khi bom Mỹ xé nát bầu trời, Nguyễn Tự Chính nhiều lần xung phong nhập ngũ. Lời nhắc của trái tim “mình là người miền Nam, chẳng lẽ ngồi yên?” thôi thúc anh rời giảng đường Bách khoa. Ngày 6.9.1971, chàng sinh viên K14 ấy cùng hàng nghìn trí thức trẻ “gác bút nghiên lên đường theo tiếng gọi Tổ quốc”.Huấn luyện tại Đoàn 10, Chính nổi bật không chỉ vì dáng cao lớn như võ sĩ La Mã mà còn bởi tính lầm lì, thẳng thắn và tư duy kỹ thuật sắc bén. Câu chuyện anh lái xe tăng lao qua “vách hụt” bằng số 3 thay vì số thấp đến giờ vẫn được kể lại với sự táo bạo, liều lĩnh nhưng đầy tính toán. Dù bị phê bình vì “không đúng quy tắc”, Chính chỉ nhẹ nhàng lý sự: “Tôi thấy vẫn an toàn, tội gì về số!”.Nhưng phía sau sự bướng bỉnh ấy là tinh thần học tập nghiêm túc, kết quả thi khóa luôn khá, giỏi. Cuối năm 1972, anh được điều về Tiểu đoàn 4, Trung đoàn xe tăng 201 rồi lên đường vào chiến trường B3 trong đội hình Đoàn A16, mang theo khát vọng cháy bỏng là trở về giải phóng nơi chôn nhau cắt rốn.Ngay trước thềm Tổng tiến công Xuân 1975, Nguyễn Tự Chính được điều lên chỉ huy Trung đội 1 của Đại đội 9, một trường hợp hiếm khi một kỹ thuật viên được bổ nhiệm sang ngạch chỉ huy. Chính đánh cờ giỏi, quyết đoán, nghĩ nhanh như đánh trận; đó là lý do anh được bổ nhiệm Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 9, Tiểu đoàn 3.Trong chiến dịch tiến công Buôn Ma Thuột, xe của Chính bị sa lầy ngay trước cửa mở, buộc kíp xe ở lại chi viện hỏa lực rồi tự kéo xe ra để tiếp tục chiến đấu. Sau khi thị xã thất thủ, đơn vị anh thu hồi hàng chục xe tăng chiến lợi phẩm và nhanh chóng làm chủ kỹ thuật để tiếp tục hành quân giải phóng các tỉnh Nam Trung Bộ.Ngày 21.3.1975, Đại đội XT9 được lệnh bàn giao các xe tăng T-54 còn lại cho các đơn vị khác để thu hồi xe tăng chiến lợi phẩm đưa vào sử dụng. Thực hiện mệnh lệnh của trên, các anh đã thu hồi được hơn 40 xe tăng M48 và M41. Với sự giúp đỡ của các hàng binh, chỉ trong vòng 3 ngày huấn luyện, cán bộ chiến sĩ Đại đội XT9 đã sử dụng tương đối thành thạo hai loại xe chiến lợi phẩm.Chiếc xe tăng M41 số hiệu 025 mà Nguyễn Tự Chính chỉ huy gồm 4 anh em. Ngoài anh ra còn có: Lái xe Hoàng Mạnh Lực người Phú Thọ, pháo thủ Đỗ Văn Mạnh người Tuyên Quang và pháo hai Trần Hán Hoa người Lạng Sơn. Chính động viên các thành viên kiểm tra kỹ thuật xe thật kỹ để anh "ra mắt" quê hương thật ngon lành.Niềm vui lớn nhất đến với Chính khi biết hướng tiến công tiếp theo là Tuy Hòa, nơi anh sinh ra nhưng đã rời xa từ thuở nhỏ. Đêm 31.3, anh thức trắng, nhìn về phía thị xã và nói với đồng đội rằng ngày về quê hương cuối cùng cũng tới.Sáng 01.4.1975, trận đánh mở màn cho giờ phút giải phóng Tuy Hòa bắt đầu. Địch chống cự quyết liệt, nhưng không thể chặn nổi sức tiến công mạnh như lũy thép của xe tăng và bộ binh. Chiếc xe 025 Nguyễn Tự Chính làm trưởng xe mang theo ba chiến sĩ bộ binh bám tháp pháo, lao thẳng vào trung tâm thị xã như mũi đột kích mở đường.Trung đội 1 của Chính đánh chiếm khu trung tâm nhanh đến mức khiến đối phương rối loạn. Tàn quân tháo chạy về phía biển, hy vọng bám được mấy tàu chiến ngoài khơi để di tản. Thấy ba xe tăng của ta ập tới, chúng cố thủ trong các lùm cây, bờ ruộng, chống trả bằng tất cả những gì còn lại.Khoảng cách lúc này rất gần. Chính nhắc pháo thủ Mạnh hạ thấp nòng pháo để khống chế đối phương. Đúng lúc đó, một viên đạn của địch bắn trúng thùng xăng ngoài. Lửa bùng lên dữ dội bao trùm thân xe. Ba chiến sĩ bộ binh ngồi sau tháp pháo hy sinh. Trong giây phút cực kỳ nguy cấp, Chính dứt khoát ra lệnh:- Rời xe, tiếp tục chiến đấu!Cả kíp xe cầm AK lao ra, lợi dụng chính thân xe đang cháy làm vật che, áp sát đánh trả. Khi ngọn lửa yếu dần và chiếc 025 vẫn trụ vững, Chính lập tức hô lớn:- Vào xe!Bốn anh em lại lao trở vào buồng chiến đấu, tiếp tục nã hỏa lực. Hai xe còn lại của trung đội áp sát phía sau, phối hợp nhịp nhàng, khiến tuyến phòng ngự cuối cùng của địch bắt đầu rạn vỡ. Pháo thủ Mạnh, với kinh nghiệm đánh gần, khai hỏa chính xác đến mức đối phương không kịp ngóc đầu. Bỗng nhiên, sau một phát bắn, khóa nòng khẩu pháo 76mm bị tụt ra ngoài. Pháo hỏng, Chính lệnh cho Mạnh tiếp tục dùng đại liên chiến đấu. Còn anh bật cửa trưởng xe rồi nhô nửa người lên ôm khẩu đại liên 50 quét từng tràng đạn thẳng căng về phía địch. Khẩu đại liên đang nổ ròn giã bỗng ngừng bặt. Pháo thủ Mạnh ngước nhìn lên thấy Chính đang gục đầu vào đuôi súng, anh vội kéo áo trưởng xe không để lộn ra ngoài.Đồng đội giữ lấy anh, tiếp tục siết vòng vây. Khi những xe tăng khác tràn lên, mũi phòng thủ cuối cùng của địch sụp đổ. Tuy Hòa hoàn toàn được giải phóng. Vậy là sau đúng 20 năm rời quê, Nguyễn Tự Chính đã trở về Tuy Hòa và anh đã nằm lại tại chính nơi mình sinh ra.



