NGUYỄN TƯỜNG -NGƯỜI TÌNH BÁO ĐỜI THƯỜNG
Nguyễn Tường - sinh năm 1929 tham gia hoạt động cách mạng từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp đến chống đế quốc Mỹ với nhiều nhiệm vụ khác nhau, trong đó nhiệm vụ mà ông nhớ nhất là một người tình báo- góp phần làm nên chiến thắng của quân ta trong cuộc kháng chiến chống lại kẻ thù.
NGUYỄN TƯỜNG -NGƯỜI TÌNH BÁO ĐỜI THƯỜNG
Một ngày đầu đông, trời Gio Bình(cũ) mưa lất phất hoà trong sắc xanh của rừng cao su bạt ngàn. Tôi tìm gặp ông Nguyễn Tường (còn gọi là Nguyễn Phu). Đã vào tuổi quá cửu tuần, nhưng trông ông nhanh nhẹn và minh mẫn lắm. Bên ấm chè xanh đặc quánh hái từ vườn, ông sống lại một thời trai trẻ xông pha bằng hồi ức kể lại cho tôi nghe với niềm say mê đến kỳ lạ.
Ông sinh năm 1929 tại làng Hải Chữ, xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Gia đình có ba anh em trai, nhà nghèo. Từ nhỏ, ba anh em phải đi chăn trâu cắt cỏ thuê cho những nhà giàu trong làng. Bố lâm bệnh hiểm nghèo, mất sớm, mẹ phải đi mò cua bắt ốc để sống qua ngày. Nhà không có một thước ruộng đất. Với lòng căm thù bọn đế quốc - phong kiến tàn bạo, ba anh em lớn lên, dần dần giác ngộ Cách mạng. Anh ruột Nguyễn Văn Tụng cán bộ cơ sở, hoạt động bị địch bắt đày ra Côn đảo, chúng tra tấn vô cùng dã man, lâm bệnh mất; Chú em Nguyễn Tấn Nguyên đi bộ đội vào tận Tây nguyên.
Những Năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hăng hái tham gia lực lượng du kích tập trung của xã Vĩnh Liêm thuộc huyện Vĩnh Linh. Khi lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng trưởng thành, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, tháng 7/1950 Tường quyết định rời khỏi địa phương xin đi theo một đơn vị Quân đội, đó là đại đội 215 tiểu đoàn 270 (còn gọi là đơn vị Lê Hồng Phong). Năm 1952, 1953 ta làm chủ cục diện chiến trường, chiến thắng địch càng giòn giã. Sau chiến thắng to lớn ở Thượng Lào. Tường được trên cho đi học lớp đặc công do trung đoàn 95 huấn luyện. Bằng những kinh nghiệm “xuất quỷ nhập thần”, đơn vị của Tường đã phối hợp với các đơn vị khác thực hiện ý đồ của trên thu hút, phân tán và tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch giành thắng lợi, tạo điều kiện cho chiến dịch lớn Điện Biên Phủ chiến thắng hoàn toàn. Đơn vị ông đã đánh tiêu diệt hoàn toàn đồn An Lạc (Quảng Bình), Thành Cổ (Quảng Trị) thì nhận được mệnh lệnh của quân uỷ Trung ương dừng lại. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chấm dứt chín năm trường kỳ kháng chiến vô cùng gian khổ và oanh liệt của dân tộc ta. Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ của giai đoạn Cách mạng mới lại đặt lên vai đơn vị và cá nhân Nguyễn Tường, ông vinh dự là một trong những chiến sỹ được trên chọn vào đoàn cán bộ tập huấn nghiệp vụ; chủ trương của Đảng và Chính phủ về các vùng đồng bào Thiên chúa giáo ở huyện Nam Đàn, Yên Thành (Nghệ An) tuyên truyền vận động nhân dân về chính sách tôn giáo, không nghe luận điệu xuyên tạc, lừa phỉnh của bọn phản động, lợi dụng tôn giáo, để đi ngược lại đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Bác Hồ, không theo địch di cư vào Nam. Sau khi trung đoàn 271 được thành lập tại Hưng Nguyên (Nghệ An), ông cùng một số anh em cán bộ cốt cán được chọn đi làm nhiệm vụ sửa sai sau cải cách ruộng đất năm 1955 - 1958, đây cũng là giai đoạn Quân đội ta thực hiện giải trừ quân bị 8 vạn quân. Thực hiện lời dạy của Bác “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”, Nguyễn Tường đã cùng tập thể hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao và nhận quyết định phục viên trở về địa phương.
Tháng 12 năm 1960 phong trào Cách mạng ở miền Nam phát triển mạnh mẽ chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập để lãnh đạo nhân dân cùng cả nước đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất giang sơn. Trước yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ nắm tình hình địch trên toàn miền Nam, nhất là tình hình ở Nam tuyến để kịp thời báo cáo lên Trung Ương. Thế là ông được Bộ công an điều động trở lại làm việc, không phải nhiệm vụ của Quân đội mà là nhiệm vụ của ngành Công an - một nhiệm vụ đối với ông hết sức nặng nề. Thế rồi trưởng ty Công an khu vực Vĩnh Linh và phó ty Lê Thiệu trực tiếp gặp ông động viên giao nhiệm vụ: Tình hình cách mạng miền Nam phát triển mạnh, nhưng việc nắm tình hình khu vực Nam tuyến (kể từ Nam vĩ tuyến 17 đến Bắc đèo Hải Vân) rất cần thiết, để trực tiếp phục vụ nhiệm vụ năm đánh địch của ta, trước tình hình đòi hỏi cấp bách… Nói đến đây ông Đáo trưởng Ty thân mật nhìn Tường rồi hỏi:
- Nhiệm vụ này giao cho đồng chí có hoàn thành được không?
- Dạ vâng! Thưa đồng chí trưởng Ty, nhiệm vụ này đối với tôi hoàn toàn mới mẻ, rất khó khăn nhưng tôi là đảng viên của Đảng, một chiến sỹ mới vào ngành, tổ chức giao, tôi sẵn sàng nhận và xin hứa hoàn thành.
Ông trưởng ty nhìn Tường và phó ty ngồi bên cạnh nói tiếp: Như các đồng chí đã biết, để thực hiện âm mưa lâu dài chia cắt đất nước ta, Mỹ và Nguỵ quyền Sài Gòn đã tập trung xây dựng phòng tuyến chống cộng ở vùng Nam giới tuyến với đủ các lực lượng Quân đội, cảnh sát, tình báo, gián điệp, mật vụ… trang bị nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh hiện đại mệnh danh: “Lá chắn thép”. Ông trưởng Ty nở nụ cười hóm hỉnh với giọng nói trầm ấm:
- Không chủ quan, coi thường địch, nhưng không phải chúng cho “lá chắn thép” là mạnh hoàn toàn đâu. Ta có cách đánh, khôn khéo và nghệ thuật, với quyết tâm cao thì chúng sẽ thất bại. Nhiệm vụ lâu dài của chúng ta là phải thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của địch, tâm tư của nhân dân để tích cực tham mưu cho Bộ - Ngành. Trong đó vai trò trách nhiệm của đồng chí hết sức quan trọng. Phải thực hiện “xã hội hoá”, xây dựng cho được cơ sở ngay trong lòng địch, kể cả trong nội bộ cảnh sát Sài Gòn. Cùng vào hoạt động trên địa bàn, trong mạng lưới Công an có một quần chúng nên trách nhiệm của Tường, một đảng viên còn phải theo dõi, giúp đỡ càng nặng nề hơn. Lúc này, dưới sự chỉ đạo của Ty Công an - khu uỷ Vĩnh Linh ta quyết định “đánh đi”. Nguyễn Xuân uỷ viên thư ký huyện uỷ Vĩnh Linh. Tiếp theo là xây dựng cơ sở Trần Quang Đổng một học sinh trường Nguyễn Hoàng kỹ sư sửa chữa máy bay sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), Nguyễn Danh... tú tài toàn phần, trưởng đoàn bình định của nguỵ ở Quảng Trị. Đến năm 1962 Bộ quyết định rút ra cả hai đơn vị thành hai trung đội, xây dựng kế hoạch “Vượt tuyến” Tuy rằng ngành đã thu được những kết quả nắm tình hình và thực hiện đánh địch, nhưng từ thực trạng đó với mạng lưới dày đặc của Mỹ, Nguỵ với sự đàn áp, khủng bố, tra tấn dã man của chúng khi người của ta bị lộ, bị bắt nên một số hy sinh không vào sâu được, một số do mất liên lạc.
Thời kỳ này, dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn; Thứ trưởng Viễn Chi cục trưởng tình báo, Nguyễn Xuân Thành, cục phó phụ trách G7 (trường Z1). Ở Vĩnh Linh có Lâm Bình, Trần Thanh Nhạn, Nguyễn Công Hàm. Vừa tiếp thu lý luận, kinh nghiệm hoạt động của các đồng chí ở Bộ - Ngành và ty Công an, để có cơ sở tham khảo, nghiên cứu Tường và một số anh em làm nhiệm vụ được xem nhiều bộ phim tình báo của các nước, nhất là tình hình xã hội của các thành phố lớn ở miền Nam và mạng lưới hoạt động tình báo, gián điệp của Mỹ- Ngụy sau đó “đóng giả” gián điệp xã hội hoá hoạt động dưới sự theo dõi bí mật của cục ngoại tuyến, để đánh giá kết quả hoạt động kịp thời điều chỉnh, bổ sung.
Giai đoạn huấn luyện không có điều kiện tiến hành dài, nên khó khăn, thử thách, càng lớn. Trong số những người cùng thực tập, Tường sẽ là đối tượng được chọn để tiến hành cuộc “vượt tuyến” sắp tới. Đây là cuộc đi thử theo chỉ đạo của Cục tình báo, nếu thuận lợi sẽ tạo tiền đề cho cục tung người của ta theo con đường này, nếu không thành công trước hết người thực hiện nhiệm vụ sẽ phải sẵn sàng hy sinh tính mạng, tuyệt đối giữ bí mật của Đảng, của cách mạng, của ngành. Điều này đặt ra vấn đề “còn - mất” của bản thân Tường và sự nghiệp lớn của Ngành đã giao.
* Vào cuộc
Qua một thời gian khổ luyện trên cơ sở lý luận và thực hành của giai đoạn “diễn tập”, bao lo âu, hồi hộp và những dự cảm của cuộc chiến thầm lặng cứ thôi thúc trong Tường, khác nào ngày đầu cầm súng lên thao trường bóp cò, nhã đạn và một thời gian khá dài ra trận đối mặt với quân thù. Những năm gian khổ ở chiến trường đã hun đúc thêm bản lĩnh, dày dạn thêm tính chiến đấu kiên cường của người chiến sỹ. Nhưng trước giờ phút bước vào cuộc chiến đấu mới, trên trận tuyến mới và một không gian môi trường, hoàn cảnh hoàn toàn mới, càng làm cho Tường hồi hộp đợi chờ và mong được chứng kiến những giây phút đầy thử thách, cam go ấy. Và ngày đó đã đến, những giờ phút thiêng liêng đối với Tường đã đến. Đó là ngày 12 tháng 8 năm 1962 - ngày “Vượt tuyến” vào Nam. Tiễn chân Tường trong đội tình báo có Nguyễn Công Hàm (tức Hồng Hải), đội trưởng Phái Khiển Trần Thanh Nhạn, Lê Lai. Những anh em này cùng đến một địa điểm “Mật” để tiễn chân, có 8 người tất cả. “Vượt tuyến” nhưng không đi qua cầu Hiền Lương, không qua bến Cửa Tùng mà chọn đoạn Bái Sơn, phía thượng nguồn dòng Bến Hải. Những người cùng đi lặng lẽ hành quân khi màn đêm đã buông, với tinh thần: Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng. Từ điểm xuất phát hướng về Thiện Chánh, Cam Thuỷ (Cam Lộ) trong đoàn đi chỉ có Tường phải bịt kín mắt, qua những đoạn khó, có người cõng để khỏi xước chân, tay khi gặp bất trắc địch, hoặc người lạ khỏi nghi ngờ là đi từ rừng về. Trong hành trang mang theo có đủ xà phòng thơm, nước hoa loại “xịn” được tổ chức chuẩn bị. Những thứ này sinh hoạt đời thường của chiến sỹ mấy khi được dùng đến. Tất cả những thứ đó phải là hàng hoá thông dụng trên thị trường miền Nam dưới thời Mỹ - Ngụy. Đêm nghỉ lại trong một ngôi Miếu thờ cạnh Quốc lộ 1A. Miếu có cửa đóng mở kỹ càng. Một đêm không có ánh đèn, chỉ có tiếng côn trùng kêu rã rích, thỉnh thoảng tiếng giày đinh của bọn lính Cộng hoà, Nghĩa quân đi lại tuần tra, lặng lẽ đến hoang sơ. Nhưng mùa lúa tám đã chín rộ, hương đồng, hương lúa gợi cảm nhớ nhà, nhớ quê - Đây rồi! một phần máu thịt của quê hương sau tám năm trời xa cách bây giờ gặp lại Gio Linh quê mẹ - Quảng Trị thân thương. Về giữa quê nhà, đứng trên mảnh đất Quảng Trị ruột thịt mà lặng lẽ, buồn thương - Giá như được nhảy ra khỏi Miếu thờ mà hét lên: Mẹ ơi! Quê hương ơi! Con đã về thì sung sướng biết mấy. Nhưng không thể, bên ngoài Miếu là cả mọi sự nguy hiểm, tiếng trâu bò gặm cỏ... chỉ mờ sáng là đã có người ra đồng gặt lúa và biết đâu có kẻ nào đó dòm ngó, phát hiện... thì sẽ như thế nào đây? Những gì sẽ diễn ra, sẽ ập đến? Phải tỉnh táo, chờ trời rạng sáng là ra khỏi Miếu, đến một quảng vắng chờ xe đò. Và tiếng gà từ trong xóm vọng vang, ánh hồng đã ửng dậy đằng đông, Tường chải mượt tóc bằng keo và xịt nước hoa vào quần áo, nghiễm nhiên trở thành một sinh viên bảnh bao, sang trọng. Một tay xách catap, một tay vẫy chiếc xe đò đang chạy từ phía Gio Linh -Đông Hà. Đảo mắt nhìn trên xe thấy phần lớn là người buôn bán, có mấy người đeo kính đen ngồi đằng sau dáng vẻ công chức, Tường vừa mừng, vừa lo, nhưng vẻ bề ngoài tỏ ra điềm tĩnh. Xe dừng lại đổ bến Đông Hà, khách hàng chen nhau xuống, mấy người đi buôn tíu tít ét xe chuyển hàng. Tường xuống xe đảo nhanh mắt một lượt thấy cảnh quan Đông Hà tràn ngập hàng hoá của Mỹ và các nước tư bản, nhưng người ăn xin, quân đội và cảnh sát nhan nhãn. Thấy hai cảnh sát nguy bên cạnh, anh dừng lại lấy ví trả tiền xe cố để lộ thẻ căn cước cho hai người cảnh sát trông thấy. Tiền xe từ Gio Linh vào Đông Hà hết 15 đồng (tiền nguỵ). Lên xe đi tiếp vào đến Dốc sỏi thì bất ngờ có một cảnh sát nguỵ ra hiệu xe dừng lại kiểm tra giấy tờ, đằng sau còn có hai nhân viên cảnh sát cùng làm nhiệm vụ. Trong lòng Tường thoáng nổi lo và chợt nghĩ hay là chúng nghi ngờ điều chi, rồi tỏ thái độ điềm tĩnh rút thẻ căn cước đưa cho cảnh sát làm nhiệm vụ, viên cảnh sát nhìn mặt Tường rồi lật mặt sau tờ căn cước, đầu gật gật ... một chốc trả lại thẻ căn cước, Tường vừa mừng, vừa thoáng nỗi lo, rồi tiếp tục theo xe đi vào miền trong.
Đến thị xã Quảng Trị, gặp một trung đội lính nguỵ đi hành quân dã ngoại và vài cảnh sát làm nhiệm vụ dọc đường, nhưng xe vẫn tiếp tục chạy vào Huế. Xe đổ bến, anh xuống chợ Đông Ba. Người, xe cộ sầm uất, hàng hoá tràn ngập. Anh đi vệ sinh để đảo mắt quan sát quang cảnh chợ, lòng bồi hồi mong ước ngày nước nhà thống nhất để được ung dung đi qua cầu Tràng Tiền, vào Đại Nội, ngắm dòng sông Hương với bao khát vọng đợi chờ. Thận trọng đề phòng sơ hở, trong đi lại, trong quan hệ giao tiếp, anh đi một quảng dọc đường Trần Hưng Đạo rồi rẽ vào cửa Tiền - Đại Nội đến cửa hiệu khá lớn, hỏi mua một ngòi bút hiệu pilôt với giá 220 đồng, thế rồi nhảy lên xe lam đi vào An Cựu. Xuống xe, đảo một vòng khắp chợ trong không khí ồn ào của cảnh người mua kẻ bán. Rồi lại lên xe đò vào Cầu Hai - Nước Ngọt, cầu dài Lăng Cô gần chân đèo Hải Vân ...Không bút mực, sổ sách, bằng trí nhớ với thời gian như là “Cưỡi ngựa xem hoa”, nhưng điều cốt yếu nhất, sống còn, nhất là làm sao khỏi bị lộ - trước hết là tấm thẻ căn cước? Theo lịch trình nhiệm vụ được giao mới thực hiện được một nửa - còn một nửa là trên đường về thuận lợi mới chỉ là bước đầu, còn biết bao thách thức đang tiềm ẩn, rình rập đối với người lính tình báo. Trên đường quay ra, đóng vai “lái thương” cở quý phái, áo sơ mi - cà vạt, khoác vetton, đeo kính đen, tay xách cà táp lại xuống Đông Ba, anh ghé về Gia Hội, giả hỏi xem giá ngư lưới cụ, hàng nhuộm áo quần dọc bờ sông, lỡ ra có bất trắc sẽ ngủ lại vạn đò đồng thời xem sau mình có cái “đuôi” nào đeo bám không?
Một ngày sắp trôi qua, ai biết được có một thanh niên từ bên kia vỹ tuyến lại ung dung đi vào đến Bắc đèo Hải Vân, qua bao hàng rào chắn của lính - cảnh sát, mật vụ, tình báo với “tấm lá chắn sắt" mà chúng dựng nên, chỉ có trong tay tấm thẻ căn cước giả không súng đạn, dao găm, trong lòng Tường không nén nỗi mừng chen nỗi lo. Anh đến quầy bán báo bên đường tìm mua một số tạp chí, báo Sài Gòn in hình người đẹp như Lệ Xuân, các ca sỹ nổi tiếng, diễn viên “Màn bạc” vv... Nhìn đồng hồ trên tay đã hai giờ chiều, Tường nhận ra đồng hồ miền Bắc chênh đồng hồ miền Nam một giờ, lúc đó đã ba giờ chiều. Tường nói đồng hồ mình chạy sai, hỏi người khách đi cùng xe lấy lại giờ.
* Thật mà giả - Giả mà thật.
Chuyến “vượt tuyến” đã thành công, khoảng 10 giờ đêm hôm đó, Tường trở về bên kia Vĩnh Linh an toàn trong niềm vui khôn xiết của lãnh đạo và đồng đội. Đây là chuyến đi đầu tiên do Công an Vĩnh Linh tổ chức, dưới sự chỉ đạo của cục tình báo Bộ Công an, đưa người vào Nam theo con đường “Công khai” - “xã hội hoá”. Việc làm này không phải là mới trong công tác phản gián - tình báo. Nhưng đi theo hình thức này, đây là việc hoàn toàn mới, bất ngờ. Bởi vì ta “đánh” người vào hàng ngũ địch bằng nhiều con đường, nhiều phương pháp đã góp phần giành nhiều thắng lợi trong quân sự - chính trị - kinh tế - ngoại giao đã góp phần to lớn trong sự nghiệp Cách mạng giải phóng dân tộc.
Ngày 12 tháng 8 năm 1962, là ngày không thể nào quên trong cuộc đời hoạt động của Tường. Với tấm thẻ căn cước mang tên Nguyễn Phu cao 1m56, nặng 52kg, sinh ngày 16/11/1929, thôn Hải Chữ, quận Trung Lương, tỉnh Quảng Trị, nghề nghiệp làm nông đo quận trưởng Hoàng Đức Thạc ký ngày 12/8/1962 - Giấy này do Bộ công an làm giả như thật, đã qua mắt mạng lưới nghiệp vụ cảnh sát ngụy Sài Gòn. Ông Nguyễn Tường lặng đi một lúc, đôi mắt thoáng vẻ buồn như chuổi ký ức hoạt động đầy căm go, thử thách và vô cùng phong phú đang trôi về; Ông tâm sự: Một chuyến đi - một con người - với giấy giả, tên giả đã qua được mắt giặc thành công. Anh em trong cục tình báo gặp tôi lúc đó trở về sung sướng nói rằng: “Chưa có ai vào Nam được bằng con đường này, mày vào được là một thành công - mừng lắm”. Nhưng tôi nghĩ: “Lúc đi, Bộ đã giao nhiệm vụ, anh em trong cục tình báo dặn dò: Nếu bất trắc địch phát hiện giấy giả thì phải bình tĩnh xử lý. Chúng sẽ bắt, sẽ tra tấn cực hình thì kiên quyết chịu đựng, thà hy sinh không tiết lộ bí mật. Tôi trả lời với anh em: Đã nhận nhiệm vụ này, tôi biết nguy hiểm – đã giám nhận là chấp nhận sự hy sinh”. Suốt cuộc đời vào sinh ra tử, tham gia chiến đấu khắp các chiến trường, từ một nông dân nghèo - đến một chiến sỹ du kích tập trung - một chiến sỹ quân đội, đã từng chiến đấu giúp nước bạn Lào trong những năm chống thực dân Pháp, rồi trưởng thành một chiến sỹ Công an nhân dân - một chiến sỹ tình báo, đã sát cánh cùng an ninh vũ trang Quảng Trị diệt ác, phá kềm, góp phần vào sự nghiệp giải phóng quê hương. Chia tay ông một con người bình dị, hiền lành mà trông ông đầy ắp chí khí của một chiến sỹ cách mạng - đầy ắp chiến công rạng ngời, chiến công ấy vẫn ẩn dấu, lặng lẽ như cuộc đời ông. Ông không muốn kể về mình. Một lần sở Công an tỉnh đề nghị nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng cho ông, nhưng rồi danh hiệu ấy đến bây giờ không thấy. Điều này khi tôi hỏi ông mới tỏ bày với giọng nói ấm áp, nụ cười đôn hậu. Tuy không có điều kiện học tập, đào tạo chính quy, nhưng chiến công của ông xứng đáng với tầm vóc của người Anh hùng - Như ông đã nói: Năm nay tôi đã 97 tuổi, về hưu, làm vườn vui cùng con cháu, bà con xóm làng. Hạnh phúc lớn lao nhất của tôi là được sống đến hôm nay, được chứng kiến bao đổi thay của quê hương đất nước. Từ một kẻ nghèo khổ đã được Đảng dìu dắt, giáo dục rèn luyện trưởng thành. Một vinh dự lớn cho tôi là năm 1967 được ra Hà Nội gặp Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng nhân Đại hội chiến sỹ thi đua toàn quân được Bác mời cơm thân mật có cả mẹ Suốt và Ngô Thị Tuyển anh hùng.



