Bài viết

Nguyễn Văn Biểu (1830-1914)

Đồng Tháp19/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Nguyễn Văn Biểu, gốc người thôn Tân Phú, tống Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường (nay là xã Tân Phú, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), sinh năm 1830, là con thứ tám trong một gia đình nông dân nghèo. Lúc nhỏ có theo học chữ Nho và võ nghệ.

Vào tuổi thanh niên, ông là người cao lớn, khoẻ mạnh hơn người, da đen, môi chì, tướng tá bậm trợn, cổ to bằng ba gang tay và sức ăn gắp mấy lần người bình thường.

Gặp lúc gia đình sa sút, ông phải đi phát có, móc tràm lụt, tát đìa, chèo ghe mướn... để giúp gia đình. Đền khi trưởng thành, ông cùng người anh thứ 7 là Nguyễn Văn Phuông theo người cậu về thôn Mỹ Thọ (nay thuộc huyện Cao Lãnh) để kiêm việc làm. Lúc đầu ông cũng chỉ làm mướn trong vùng, qua đó tiếng tăm về sức mạnh, giỏi võ và ăn khoẻ của ông cảng vang dội. Về sau, ông chèo ghe cho người cậu đi bán côi xay lúa. Trong một chuyền đi bán xa, đền gần Mỹ Tho (Định Tường), tình cờ quan Chánh lành binh biết được tài nghệ của ông, muôn giữ ông lại để huấn luyện binh sĩ nhưng ông từ chối. Thấy ông khoẻ mạnh, lại siêng năng làm lụng. tính tình nhân hậu nên một gia đình khá giả có ruộng đất ở Rạch Miễu (thôn Mỹ Thọ) kêu gả con gái cho. Từ đó, ông không đi làm mướn nữa vì phải chăm sóc ruộng nương cho nhà vợ.

Tháng 2/1859, thực dân Pháp tân công chiếm được thành Gia Định, sau đó chiềm Định Tường. Anh hùng hào kiệt nổi lên chồng Pháp khắp nơi. Khi được tin Thiên hộ Võ Duy Dương kéo quân về Đồng Tháp Mười, chọn Gò Tháp làm tống hành dinh, xây dựng đồn luỹ chồng giặc, ông liên từ già vợ con lên đường vô Gò Tháp để ra mất Thiên hộ Dương và được tin cần giao cho nhiệm vụ chỉ huy đội phòng vệ cân cử. Từ đó, mọi người gọi ông là Phòng Biếu hoặc Phòng Tâm (vì ông thứ tám trong gia đình).

Trong suốt thời gian theo nghĩa quân, ông luôn có mặt bên chủ tướng, lúc nào cũng dùng cảm, dốc hết lòng cho đại cuộc, không ngại gian khố, hy sinh. Vũ khí ông sử dụng lúc cận chiến là cây thiết bảng. Ông còn nhận trọng trách điều tra, trừng trị bọn Việt gian.

Tháng 4/1866 thực dân Pháp tập trung đại quân tần công triệt hạ căn cứ Tháp Mười. Phó tướng Đốc binh Kiều và ông ở lại đại bản doanh cô thủ nghỉ binh trong lúc đại quân do Thiên hộ Dương chỉ huy rút lui an toàn để bảo tồn lực lượng chiên đầu sau này. Ác chiến diễn ra ở Gò Tháp, Độc binh Kiều bị thương và qua đời tại đây. Sau khi chôn cất Độc bình Kiều, Phòng Biếu rút quân về Sình Lớn, cô thủ ở ngà ba Thông Bình (Tân Thành). Mặc dù quân ít, vũ khí thô sơ, quân Pháp lại càn quét liên miên nhưng nghĩa quân vẫn kiên trì chiến đầu kéo dài suốt bồn năm nữa. Trong thời gian này, ông đã trừng trị Phạm Văn Khanh, kẻ phản bội đã dẫn đường cho giặc Pháp vào triệt hạ căn cứ Tháp Mười.

Trước sự truy lùng của giặc, lực lượng nghĩa quân ngày một sa sút. Thấy không thể tiếp tục chiền đầu được nữa, ông ra lệnh giải tán nghĩa quân. Riêng ông thường đi Rạch Giá để nấm tình hình và liên lạc với nghĩa quân Nguyễn Trung Trực.

Nhưng tình hình phục quốc ngày một đen tối, ông quay về xóm Giồng, rạch Cao Miên, làng Bình Hàng Trung (nay thuộc huyện Cao Lãnh) ấn dật. Dù tuối ngày một cao, sức ngày một yêu, nhưng ông cũng cùng Hoà thượng Minh Thông - Hải Huệ (ở chùa Bửu Lâm gần nhà) tổ chức truyền dạy võ nghệ cho thanh niên với niềm hy vọng ngày mai.

Ông mất năm 1914, thọ 84 tuổi. Mộ ông, bà và con cháu hiện vẫn còn ở xóm này. Công lao chồng giặc giữ nước của ông mài được nhân dân ghi tạc. Mặc dù không có sắc phong nhưng ông được nhân dân làng Bình Hàng Trung thờ phượng trong đình làng. Vào năm 2014, mộ ông được Uỷ ban nhân dân xã và nhân dân cải táng vào khuôn viên đình thần Bình Hàng Trung.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn