Anh hùng Lao động

Nguyễn Văn Bôn – Người thầy mang ánh sáng con chữ đến vùng cao Mù Cả Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, có

Câu chuyện về Anh hùng Lao động Nguyễn Văn Bôn – người thầy tiên phong đưa con chữ đến vùng cao Mù Cả, góp phần xóa mù chữ, xây dựng mô hình nội trú dân nuôi và đặt nền móng cho giáo dục vùng cao Tây Bắc.

Bắc Ninh25/08/2026Xã Phúc Trạch (Xã Phúc Trạch)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Văn Bôn – Người thầy mang ánh sáng con chữ đến vùng cao Mù Cả  Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, có

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, có những người thầy để lại dấu ấn không phải bởi những ngôi trường lớn hay những công trình đồ sộ, mà bằng chính đôi chân, bàn tay và tấm lòng của mình. Họ đến những nơi xa xôi nhất, nơi con chữ còn xa lạ với người dân, tự dựng lớp học, tự tìm học trò, vận động từng gia đình cho con em đi học và kiên trì gieo những hạt giống đầu tiên của tri thức. Anh hùng Lao động Nguyễn Văn Bôn là một người thầy như thế. Năm 1962, khi mới 25 tuổi, ông trở thành Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành Giáo dục Việt Nam, ghi dấu một câu chuyện đặc biệt về người giáo viên trẻ đã dành những năm tháng đẹp nhất của tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao Tây Bắc.

Câu chuyện về Nguyễn Văn Bôn gắn liền với Mù Cả, một xã vùng cao thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trong những năm đầu sau ngày miền Bắc được giải phóng. Ngày nay, khi đường sá đã thuận lợi hơn, trường học đã được xây dựng khang trang, trẻ em có thể đến lớp bằng những phương tiện thuận tiện, thật khó hình dung cuộc sống ở Mù Cả hơn sáu thập niên trước lại gian khó đến như thế nào. Khi ấy, địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, các bản cách xa nhau, điều kiện giao thông vô cùng khó khăn. Người dân chủ yếu sống dựa vào lao động sản xuất tự cung tự cấp, đời sống còn thiếu thốn và việc học chữ chưa trở thành một nhu cầu phổ biến.

Trong hoàn cảnh ấy, giáo dục không thể đơn giản bắt đầu bằng việc dựng một ngôi trường rồi chờ học sinh đến. Người thầy phải đi tìm học sinh, phải đến từng bản, từng gia đình, phải tìm cách thuyết phục đồng bào hiểu rằng con chữ có thể mở ra một tương lai khác cho con em mình.

Năm 1959, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa văn hóa, giáo dục đến với đồng bào miền núi, Nguyễn Văn Bôn khi ấy là một giáo viên trẻ đã tình nguyện lên Tây Bắc công tác. Ông cùng những giáo viên khác bắt đầu một hành trình mà sau này trở thành một phần đáng nhớ trong lịch sử giáo dục vùng cao. Theo hồi ức của ông, từ thị trấn Lai Châu khi ấy, đoàn phải đi nhiều ngày mới đến được Mường Tè, rồi tiếp tục đi bộ thêm nhiều ngày nữa mới tới Mù Cả.

Đó không chỉ là một chuyến đi công tác.

Đó là chuyến đi mở đầu cho một cuộc đời gắn bó với giáo dục vùng cao.

Mù Cả lúc ấy có khoảng 500 người dân sống rải rác ở nhiều bản, chủ yếu là đồng bào Hà Nhì. Một khó khăn rất lớn ngay lập tức xuất hiện: ngôn ngữ. Người dân không biết tiếng phổ thông, trong khi người giáo viên trẻ từ miền xuôi lên cũng chưa biết tiếng Hà Nhì. Việc giao tiếp, vận động và giảng dạy vì thế trở thành một thử thách lớn. Trong thời gian đầu, chính quyền địa phương phải nhờ người biết cả tiếng Hà Nhì và tiếng phổ thông làm phiên dịch cho ông.

Nhưng Nguyễn Văn Bôn không muốn mãi phụ thuộc vào người phiên dịch.

Ông bắt đầu học tiếng Hà Nhì.

Ông tìm hiểu phong tục, tập quán của đồng bào.

Ông tìm hiểu cách sinh hoạt của từng bản.

Ông muốn trước khi dạy chữ thì phải hiểu người mình dạy.

Đó là một bài học giáo dục rất sâu sắc mà ông đã thực hiện từ những ngày đầu tiên: muốn đưa giáo dục đến với cộng đồng thì trước hết phải đến gần cộng đồng.

Người thầy trẻ không chỉ đứng trong lớp học.

Ông đi vào từng bản.

Trong suốt nhiều tháng, ông cùng cán bộ địa phương đi bộ, vượt núi, vượt suối, đến từng gia đình vận động người dân đưa trẻ đến trường. Có những nơi phải đi cả ngày đường mới tới. Có những gia đình còn chưa hiểu vì sao trẻ em phải học chữ. Có những bậc cha mẹ cần con ở nhà để phụ giúp gia đình. Có những đứa trẻ chưa từng nghĩ đến chuyện ngồi trong một lớp học.

Nguyễn Văn Bôn kiên trì giải thích.

Ông nói về việc học chữ.

Ông nói về tương lai của trẻ em.

Ông nói rằng biết chữ sẽ giúp người dân đọc được sách báo, hiểu được chủ trương, chính sách, biết tính toán và tiếp cận được những kiến thức mới.

Nhưng ông không chỉ nói.

Ông sống cùng đồng bào.

Ở nhà dân, ông tự quét dọn, giúp bà con làm vệ sinh, khai thông cống rãnh, hướng dẫn cách ăn ở sạch sẽ, mắc màn tránh muỗi. Chính cách sống gần gũi ấy dần tạo nên niềm tin. Người dân bắt đầu hiểu rằng người giáo viên từ miền xuôi lên không phải là một người xa lạ, mà là người thực sự muốn giúp con em họ biết chữ và có một cuộc sống tốt hơn.

Sau nhiều tháng vận động, lớp học đầu tiên ở Mù Cả được mở.

Khoảng 40 học sinh đến lớp.

Con số 40 ngày nay có thể rất nhỏ.

Nhưng trong hoàn cảnh Mù Cả năm ấy, đó là một thành quả lớn.

Bởi phía sau 40 học sinh ấy là hàng tháng trời đi vận động, là những con đường núi, là những cuộc trò chuyện với từng gia đình và là niềm tin mà người thầy phải từng bước xây dựng.

Nguyễn Văn Bôn tự tay dựng lớp học.

Bàn ghế được làm từ những vật liệu sẵn có.

Ngày khai giảng, lớp học còn thiếu thốn đến mức chỉ có một hộp phấn và một quyển sách vỡ lòng. Những điều tưởng như bình thường đối với một lớp học ở miền xuôi lại trở thành những thứ quý giá ở Mù Cả.

Nhưng thiếu thốn không ngăn được tiếng đọc bài của trẻ.

Trong căn lớp đơn sơ, những âm thanh đầu tiên của tiếng Việt vang lên giữa núi rừng.

Đó là âm thanh của một cuộc đổi thay.

Từ ngày ấy, Mù Cả bắt đầu có một lớp học.

Nhưng rồi một vấn đề khác xuất hiện.

Những bản ở xa trường.

Có học sinh phải đi quãng đường rất dài mới đến được lớp.

Đi vài ngày thì còn có thể cố gắng, nhưng đi học hàng ngày trên những con đường núi hiểm trở là điều gần như không thể đối với trẻ nhỏ.

Một số em bắt đầu bỏ học.

Nếu chỉ nhìn vào tình hình ấy, người ta có thể cho rằng việc mở lớp đã thành công bước đầu nhưng khó có thể duy trì lâu dài.

Nguyễn Văn Bôn lại nghĩ khác.

Ông tìm cách giải quyết nguyên nhân.

Nếu học sinh không thể đi học xa mỗi ngày, thì phải tìm nơi cho các em ở gần trường.

Từ đó, ông cùng cán bộ xã vận động người dân góp công, góp sức dựng nơi ăn ở cho học sinh. Các gia đình ở gần trường được vận động cho học sinh các bản xa đến ở nhờ, cùng ăn cùng ở như con em trong nhà. Sau đó, mô hình nhà ở tập trung cho học sinh được hình thành từ sự đóng góp của cộng đồng. Đây được xem là một trong những hình thức tiền thân của mô hình “trường nội trú dân nuôi” ở miền núi.

Đây là một sáng kiến có ý nghĩa rất lớn.

Nguyễn Văn Bôn không chờ đợi một nguồn kinh phí lớn từ bên ngoài.

Ông tìm giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.

Người dân có gì góp nấy.

Người góp tre, người góp gỗ.

Người góp công dựng nhà.

Gia đình góp gạo.

Nhà trường và cộng đồng cùng chia sẻ trách nhiệm nuôi học sinh.

Từ đó, việc học không còn là chuyện riêng của người thầy hay của một gia đình.

Nó trở thành việc chung của cả cộng đồng.

Đó chính là một trong những thành tựu đáng chú ý nhất của Nguyễn Văn Bôn: ông đã biến giáo dục thành một hoạt động có sự tham gia của người dân.

Một ngôi trường có thể được xây bằng gỗ tre.

Nhưng một nền giáo dục chỉ có thể tồn tại lâu dài khi cộng đồng thực sự coi việc học là trách nhiệm và quyền lợi của mình.

Nguyễn Văn Bôn hiểu điều đó từ rất sớm.

Ông không chỉ dạy trẻ em.

Ông còn hướng đến việc xóa mù chữ cho người lớn.

Bởi nếu chỉ trẻ em biết chữ mà cha mẹ vẫn mù chữ thì sự thay đổi sẽ rất chậm.

Ông bắt đầu vận động người dân tham gia các lớp bình dân học vụ.

Cách tổ chức lớp học cũng rất linh hoạt.

Người dân vùng cao bận làm nương, làm ruộng, chăn nuôi, không thể đến lớp theo một thời gian biểu cứng nhắc như học sinh.

Vì vậy, ông phải tìm cách dạy phù hợp với cuộc sống của người dân.

Buổi sáng có lớp cho những người đi làm nương.

Ban ngày có lớp cho trẻ em.

Buổi chiều có lớp đào tạo những người có thể trở thành giáo viên bình dân học vụ.

Buổi tối lại có lớp cho phụ nữ sau khi trở về từ nương rẫy.

Một ngày của người thầy trẻ gần như không có thời gian nghỉ. Tư liệu lịch sử của ngành Giáo dục Hải Phòng ghi lại rằng Nguyễn Văn Bôn có thời điểm dạy tới bốn lớp trong một ngày, kết hợp dạy chữ với tuyên truyền chính sách và vận động đồng bào xây dựng đời sống mới.

Đó là một nhịp làm việc đáng kinh ngạc đối với một giáo viên trẻ.

Nhưng điều đáng nói hơn là ông không coi việc dạy học chỉ là truyền đạt kiến thức.

Ông quan niệm dạy chữ phải đi đôi với dạy người.

Biết đọc, biết viết là bước đầu.

Sau đó phải biết áp dụng kiến thức vào cuộc sống.

Phải biết giữ vệ sinh.

Phải biết tổ chức sản xuất.

Phải biết xây dựng gia đình và cộng đồng.

Phải từng bước thay đổi những tập tục không còn phù hợp.

Vì thế, trường học Mù Cả dần trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.

Trẻ em học chữ.

Người lớn học chữ.

Thanh niên được bồi dưỡng để trở thành những người tiếp tục dạy chữ cho bà con.

Người dân được hướng dẫn những cách làm mới trong sản xuất và sinh hoạt.

Giáo dục bắt đầu lan ra khỏi lớp học.

Đó chính là điều làm nên sự đặc biệt trong cách làm của Nguyễn Văn Bôn.

Ông không chờ đến khi có đầy đủ sách vở, bàn ghế hay thiết bị mới dạy học.

Thiếu giấy thì tìm cách tận dụng những vật liệu có sẵn.

Thiếu đồ dùng học tập thì tự làm.

Thiếu sân chơi thì tổ chức các hoạt động ngoài trời.

Thiếu điều kiện sinh hoạt thì cùng người dân tìm cách cải thiện.

Có những câu chuyện về cách ông tổ chức cho học sinh tự lao động, làm nương, gây dựng nguồn lực để phục vụ hoạt động của trường. Những việc làm ấy giúp trẻ em vừa học chữ vừa rèn luyện kỹ năng lao động, tinh thần tập thể và ý thức tự lập.

Có lúc ông còn dùng những hình thức rất sáng tạo để giúp người dân học chữ.

Một số tư liệu kể lại câu chuyện ông viết chữ lên lưng trâu để người dân có thể tranh thủ học trong lúc chăn gia súc. Những cách làm tưởng như kỳ lạ ấy lại phản ánh một điều rất rõ: ông luôn tìm cách đưa việc học đến gần cuộc sống, thay vì bắt cuộc sống phải thay đổi hoàn toàn để phù hợp với việc học.

Đó là tinh thần giáo dục rất tiến bộ.

Người thầy phải đi tìm phương pháp.

Không có một phương pháp duy nhất.

Không có một khuôn mẫu áp dụng cho mọi nơi.

Muốn dạy được học sinh thì phải hiểu học sinh.

Muốn dạy được người dân thì phải hiểu cuộc sống của người dân.

Và muốn giáo dục thành công ở vùng cao thì phải tôn trọng văn hóa, phong tục và đặc điểm của cộng đồng.

Nguyễn Văn Bôn đã thực hiện điều đó bằng chính cuộc sống của mình.

Ông không chỉ đứng trên bục giảng.

Ông bước xuống ruộng nương.

Ông vào bản.

Ông đi vận động.

Ông cùng người dân dựng trường.

Ông cùng học sinh làm việc.

Ông cùng cộng đồng giải quyết từng khó khăn.

Có lẽ vì vậy mà người dân Mù Cả dần dành cho ông một tình cảm đặc biệt.

Người thầy trẻ từ miền xuôi lên không còn là người xa lạ.

Ông trở thành một phần của cộng đồng.

Và khi một người thầy trở thành một phần của cộng đồng, những bài học của người thầy cũng dễ dàng được tiếp nhận hơn.

Sau nhiều năm kiên trì, kết quả bắt đầu xuất hiện.

Mù Cả từ một xã gần như chưa có người biết tiếng phổ thông và chưa có nền giáo dục chính quy đã từng bước hình thành hệ thống lớp học.

Trẻ em đến trường.

Người lớn tham gia các lớp xóa mù.

Một đội ngũ giáo viên bình dân học vụ được hình thành.

Mô hình nội trú dân nuôi được duy trì.

Đến năm 1963, Mù Cả trở thành xã đầu tiên của các tỉnh miền núi Tây Bắc được công nhận xóa nạn mù chữ.

Đó là một thành tựu có ý nghĩa rất lớn.

Bởi từ một nơi được xem là khó khăn, xa xôi, Mù Cả đã trở thành một điểm sáng về giáo dục.

Câu chuyện ấy nhanh chóng trở thành một biểu tượng trong ngành giáo dục.

Người thầy trẻ Nguyễn Văn Bôn cũng trở thành một tấm gương về tinh thần tình nguyện và sự tận tụy với nghề.

Ngày 3 tháng 6 năm 1962, khi mới 25 tuổi, Nguyễn Văn Bôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, trở thành Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành Giáo dục Việt Nam.

Đó là một vinh dự đặc biệt.

Nhưng điều đáng chú ý là Nguyễn Văn Bôn không xem danh hiệu ấy là lý do để rời xa bục giảng.

Sau khi được phong Anh hùng, ông vẫn trở lại Mù Cả tiếp tục công việc. Ông ở lại dạy học sinh của mình cho đến khi các em hoàn thành cấp học rồi mới bàn giao công việc để về Hà Nội học tập nâng cao trình độ văn hóa.

Một chi tiết trong cuộc đời ông rất đáng nhớ.

Sau này, khi có điều kiện làm việc ở những vị trí quản lý, ông lại không mấy hứng thú với việc trở thành một cán bộ quản lý giáo dục. Khi được đề nghị làm hiệu trưởng một trường ở Hải Phòng, ông từng bày tỏ mong muốn được trở về vùng cao tiếp tục dạy học.

Điều đó cho thấy danh hiệu Anh hùng không làm thay đổi điều ông yêu thích nhất.

Ông vẫn muốn làm thầy.

Vẫn muốn đứng lớp.

Vẫn muốn được trực tiếp nhìn thấy học sinh đọc chữ, viết chữ và trưởng thành.

Có lẽ đối với ông, thành công lớn nhất không phải là được trao một danh hiệu cao quý.

Thành công lớn nhất là nhìn thấy một đứa trẻ từ một bản xa biết đọc.

Là nhìn thấy một người mẹ biết viết tên mình.

Là nhìn thấy một thanh niên sau khi học chữ có thể trở thành người dạy lại cho người khác.

Là nhìn thấy một bản làng từng chìm trong mù chữ bắt đầu có tiếng trẻ đọc bài.

Những thành quả ấy mới thực sự là phần thưởng của nghề giáo.

Câu chuyện về Nguyễn Văn Bôn sau này được đưa vào sách giáo khoa, trở thành một câu chuyện giáo dục được nhiều thế hệ học sinh biết đến. Người dân Mù Cả thậm chí còn lấy tên ông đặt cho một ngọn núi ở đầu bản như một cách ghi nhớ người thầy đã mang con chữ đến vùng đất của họ.

Đó là một sự tri ân rất đặc biệt.

Một danh hiệu có thể được trao trong một ngày.

Một tấm bằng có thể được treo trên tường.

Một huân chương có thể được lưu giữ trong tủ kính.

Nhưng một ngọn núi mang tên người thầy thì lại tồn tại giữa đất trời.

Nó giống như lời nhắc nhở rằng những đóng góp chân thành cho cộng đồng có thể được lưu giữ theo những cách không cần đến nghi lễ.

Sau những năm tháng ở Mù Cả, Nguyễn Văn Bôn tiếp tục học tập và công tác trong ngành giáo dục. Ông hoàn thiện trình độ văn hóa, học đại học và tiếp tục gắn bó với nghề dạy học. Nhưng Mù Cả vẫn luôn là một phần đặc biệt trong ký ức của ông.

Nhiều năm sau, khi trở lại vùng Tây Bắc, những ký ức cũ vẫn hiện lên.

Những con đường từng đi bộ.

Những bản làng từng vận động.

Những học sinh đầu tiên.

Những lớp học đơn sơ.

Những người dân từng góp gạo, góp công dựng trường.

Tất cả tạo nên một quãng đời mà chính ông từng gọi là phần đời đẹp và xả thân nhất của mình.

Có lẽ đó cũng là điều khiến câu chuyện về Nguyễn Văn Bôn vượt ra khỏi phạm vi một câu chuyện cá nhân.

Nó phản ánh một giai đoạn đặc biệt của lịch sử giáo dục Việt Nam.

Đó là thời kỳ mà giáo viên không chỉ là người đứng lớp.

Họ còn là những người khai phá.

Họ phải dựng trường.

Phải vận động học sinh.

Phải làm công tác dân vận.

Phải học tiếng địa phương.

Phải tổ chức đời sống nội trú.

Phải tự làm đồ dùng dạy học.

Và đôi khi phải tự mình giải quyết những vấn đề mà ngày nay có cả một hệ thống chuyên môn hỗ trợ.

Những người thầy như Nguyễn Văn Bôn đã đặt những viên gạch đầu tiên cho giáo dục vùng cao.

Từ những lớp học đơn sơ ấy, nhiều thế hệ học sinh trưởng thành.

Từ những mô hình nội trú dân nuôi ban đầu, giáo dục dân tộc và giáo dục vùng cao từng bước phát triển.

Từ những lớp bình dân học vụ, phong trào xóa mù chữ lan rộng.

Và từ những người giáo viên tình nguyện, đội ngũ nhà giáo miền núi ngày càng được xây dựng.

Ngày nay, giáo dục vùng cao đã có những bước tiến rất xa.

Trường học được xây dựng kiên cố hơn.

Đội ngũ giáo viên được đào tạo bài bản hơn.

Cơ sở vật chất ngày càng đầy đủ.

Trẻ em có nhiều cơ hội học tập hơn.

Nhưng nhìn lại câu chuyện của Nguyễn Văn Bôn, chúng ta càng hiểu rằng không có thành quả nào tự nhiên xuất hiện.

Phía sau một hệ thống giáo dục là những thế hệ người thầy đã đi trước.

Họ bắt đầu từ những điều rất nhỏ.

Một lớp học.

Một bảng đen.

Một hộp phấn.

Một quyển sách.

Một nhóm học sinh.

Nhưng từ những điều nhỏ bé ấy, họ tạo ra một sự thay đổi lớn.

Nguyễn Văn Bôn đã chứng minh rằng một người thầy, nếu có lòng tận tụy và biết gắn việc dạy học với cuộc sống, có thể tạo ra ảnh hưởng vượt xa phạm vi lớp học.

Ông không chỉ dạy học sinh biết chữ.

Ông giúp cả một cộng đồng thay đổi cách nhìn về giáo dục.

Ông không chỉ dựng trường.

Ông góp phần dựng nên niềm tin rằng con chữ có thể mở đường cho tương lai.

Ông không chỉ đào tạo học sinh.

Ông góp phần hình thành những người có thể tiếp tục truyền chữ cho cộng đồng.

Đó chính là giá trị lớn nhất trong sự nghiệp của ông.

Và đó cũng là lý do danh hiệu Anh hùng Lao động dành cho Nguyễn Văn Bôn không chỉ là sự ghi nhận đối với một cá nhân. Nó còn là sự tôn vinh đối với những thế hệ nhà giáo đã tình nguyện rời quê hương, đến những vùng xa xôi để gieo chữ, gieo tri thức và gieo niềm tin.

Hơn sáu mươi năm đã trôi qua kể từ ngày người thầy trẻ Nguyễn Văn Bôn đặt chân đến Mù Cả.

Nhiều thứ đã thay đổi.

Những con đường ngày ấy nay đã khác.

Những lớp học ngày ấy nay đã trở thành ký ức.

Những học sinh đầu tiên ngày ấy nay đã trở thành những người ông, người bà.

Nhưng tiếng đọc bài đầu tiên của trẻ em Mù Cả vẫn có thể được hình dung như một biểu tượng của sự đổi thay.

Từ một vùng đất xa xôi, tiếng đọc ấy đã vang lên.

Rồi lan sang những bản khác.

Lan sang những thế hệ khác.

Và trở thành một phần của câu chuyện giáo dục Việt Nam.

Nguyễn Văn Bôn đã đi qua cuộc đời bằng một lựa chọn rất giản dị: làm thầy.

Nhưng bằng sự tận tụy với lựa chọn ấy, ông đã làm nên một sự nghiệp không giản dị.

Ông để lại những lớp học.

Để lại những học trò.

Để lại một mô hình giáo dục.

Để lại những bài học về sự sáng tạo.

Để lại tinh thần dấn thân.

Và quan trọng nhất, ông để lại một thông điệp vẫn còn nguyên giá trị: ở nơi nào con người còn cần ánh sáng tri thức, ở nơi đó người thầy vẫn có thể tạo nên những điều lớn lao.

Câu chuyện của Anh hùng Lao động Nguyễn Văn Bôn vì thế không chỉ là câu chuyện về một người giáo viên vùng cao. Đó là câu chuyện về sức mạnh của giáo dục, về lòng tận tâm của người thầy và về khả năng thay đổi một cộng đồng bằng những việc làm bền bỉ mỗi ngày.

Từ Mù Cả xa xôi của hơn sáu thập niên trước, một người thầy trẻ đã mang theo bảng, phấn và những bài học đầu tiên.

Ông không mang đến một điều gì quá lớn lao.

Chỉ là con chữ.

Nhưng từ con chữ ấy, những đứa trẻ có thể đọc.

Từ việc đọc, các em có thể học.

Từ việc học, các em có thể mở rộng thế giới của mình.

Và từ những thế hệ biết chữ, cả một cộng đồng có thể thay đổi.

Đó chính là thành tựu lớn nhất của người thầy.

Nguyễn Văn Bôn – Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành Giáo dục Việt Nam – đã dành tuổi trẻ của mình để đưa ánh sáng tri thức đến Mù Cả, góp phần xóa mù chữ, xây dựng mô hình giáo dục nội trú dân nuôi và đặt những viên gạch đầu tiên cho sự nghiệp giáo dục vùng cao Tây Bắc. Câu chuyện của ông là một biểu tượng đẹp về lòng yêu nghề, tinh thần dấn thân và sức mạnh của giáo dục trong hành trình thay đổi cuộc sống con người.

Video / Phóng sự

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn