Nguyễn Văn Cốc – Người phi công tiêm kích đạt danh hiệu Át cơ (Ace) huyền thoại.
Nguyễn Văn Cốc sinh năm 1942 tại Việt Yên, Bắc Giang. Cha và chú của ông đều bị thực dân Pháp sát hại trong kháng chiến. Mang trong mình nỗi đau mất người thân và lòng căm thù giặc sâu sắc, chàng thanh niên vóc dáng nhỏ bé, rắn rỏi đã trúng tuyển phi công và được cử sang Liên Xô đào tạo lái tiêm kích phản lực MiG-21 thế hệ mới. Trở về nước phục vụ tại Trung đoàn Không quân Sao Đỏ (Trung đoàn 921), Nguyễn Văn Cốc bước vào cuộc đối đầu không cân sức. Giữa những năm 1966 – 1972, khi không quân Mỹ ồ ạt mở chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc, trong sổ tay tác chiến và báo cáo tình báo của các phi công tiêm kích Mỹ đồn thổi về một bóng ma huyền thoại trên bầu trời: một phi công MiG-21 thoắt ẩn thoắt hiện, xuất kích từ các đường băng ngắn trong thung lũng, hạ gục hàng loạt máy bay tối tân rồi biến mất vào mây ngàn. Người Mỹ gọi bóng ma ấy bằng mật danh đầy ám ảnh: "Đại tá Tomb" (hay Colonel Toon).
Giữa những năm 1966 – 1972, khi không quân Mỹ ồ ạt mở chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc, trong sổ tay tác chiến và báo cáo tình báo của các phi công tiêm kích Mỹ đồn thổi về một bóng ma huyền thoại trên bầu trời: một phi công MiG-21 thoắt ẩn thoắt hiện, xuất kích từ các đường băng ngắn trong thung lũng, hạ gục hàng loạt máy bay tối tân rồi biến mất vào mây ngàn. Người Mỹ gọi bóng ma ấy bằng mật danh đầy ám ảnh: "Đại tá Tomb" (hay Colonel Toon).
Nhưng trên thực tế chiến trường, không có vị đại tá thần thoại nào cả. Huyền thoại ấy chính là hiện thân bằng xương bằng thịt của những "cánh én bạc" Quân đội Nhân dân Việt Nam, mà tiêu biểu nhất là Nguyễn Văn Cốc – người phi công tiêm kích đạt danh hiệu Át cơ (Ace) huyền thoại, giữ kỷ lục bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất trong lịch sử không chiến hiện đại với 9 lần hạ gục đối phương.
Nguyễn Văn Cốc sinh năm 1942 tại Việt Yên, Bắc Giang. Cha và chú của ông đều bị thực dân Pháp sát hại trong kháng chiến. Mang trong mình nỗi đau mất người thân và lòng căm thù giặc sâu sắc, chàng thanh niên vóc dáng nhỏ bé, rắn rỏi đã trúng tuyển phi công và được cử sang Liên Xô đào tạo lái tiêm kích phản lực MiG-21 thế hệ mới.
Trở về nước phục vụ tại Trung đoàn Không quân Sao Đỏ (Trung đoàn 921), Nguyễn Văn Cốc bước vào cuộc đối đầu không cân sức. Không quân và Hải quân Mỹ nắm giữ ưu thế áp đảo tuyệt đối về số lượng, công nghệ radar cảnh báo sớm, cùng những phi cơ tiêm kích hiện đại bậc nhất thời bấy giờ như F-4 Phantom II, F-105 Thunderchief, được lái bởi những phi công dày dạn kinh nghiệm tốt nghiệp từ các trường huấn luyện tác chiến hàng đầu thế giới.
Trong khi đối phương ỷ vào tốc độ siêu âm và tên lửa tầm xa, Nguyễn Văn Cốc cùng đồng đội lại tôi luyện lối đánh đặc trưng của không quân Việt Nam: Bất ngờ, táo bạo, chớp nhoáng và cự ly gần.
Chiếc MiG-21 dưới sự điều khiển của ông không bay tuần tra trên tầng cao để làm mồi cho radar cảnh báo đối phương. Thay vào đó, ông lợi dụng địa hình đồi núi trập trùng của miền Bắc, bay sát các hẻm núi ở độ cao cực thấp, luồn lách dưới tầm quét của radar. Khi nhận được lệnh dẫn đường chuẩn xác từ các trạm radar mặt đất, Nguyễn Văn Cốc lập tức gạt cần tăng lực toàn phần, kéo ngược máy bay vút thẳng lên không trung với tốc độ âm thanh, bổ nhào từ trên đỉnh đầu đối phương xuống như một mũi giáo ánh sáng.
Khoảnh khắc một phi công Mỹ kịp nhìn thấy vệt én bạc xé mây lao xuống thường cũng là giây phút định mệnh. Nguyễn Văn Cốc nổi tiếng với bản lĩnh thép và sự lạnh lùng đến nghẹt thở: ông không bao giờ phóng tên lửa bừa bãi từ xa. Ông kiên nhẫn tăng tốc, áp sát đuôi máy bay địch đến cự ly chỉ còn hơn một cây số – khoảng cách nguy hiểm mà mảnh vỡ của máy bay đối phương khi phát nổ hoàn toàn có thể va đập làm hỏng chính máy bay của mình. Khi điểm ngắm khóa chặt nguồn nhiệt động cơ địch, ông mới ấn nút phóng. Hai vệt lửa rít gào lao đi, biến chiếc tiêm kích Mỹ thành quả cầu lửa giữa tầng không.
Chỉ tính riêng trong khoảng thời gian từ năm 1967 đến 1969, Nguyễn Văn Cốc đã bắn rơi 9 máy bay các loại của quân đội Mỹ (gồm 6 chiếc F-4 Phantom, 2 chiếc F-105 Thunderchief và 1 máy bay trinh sát không người lái AQM-34 Firebee). Chưa dừng lại ở đó, ông còn tham gia yểm trợ và cùng đồng đội bắn hạ thêm nhiều máy bay khác, tạo nên nỗi khiếp sợ thường trực cho các phi đoàn không quân Mỹ mỗi khi bay qua vùng trời Tây Bắc và Hà Nội.
Đặc biệt, ngày 2 tháng 1 năm 1967, trong chiến dịch Bolo – một cái bẫy quy mô lớn do huyền thoại không chiến Mỹ Robin Olds giăng ra nhằm tiêu diệt toàn bộ lực lượng MiG-21 của ta – biên đội của Nguyễn Văn Cốc bị vây ép giữa một bầy tiêm kích F-4 đông gấp nhiều lần. Máy bay của ông bị trúng tên lửa, chao đảo dữ dội trên không. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, ông giữ bình tĩnh đến phút cuối cùng, chỉ bấm nút nhảy dù khi máy bay đã hoàn toàn mất khả năng điều khiển. Rơi xuống vùng rừng núi an toàn, ông nhanh chóng tìm đường trở về căn cứ, băng bó vết thương rồi tiếp tục xin lên buồng lái chiến đấu ngay trong những ngày sau đó.
Sau những chiến công vang dội, năm 1969, Thượng úy Nguyễn Văn Cốc vinh dự được Bác Hồ gắn Huy hiệu của Người và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân khi mới 27 tuổi. Nhằm bảo toàn một "viên ngọc quý" cho lực lượng không quân non trẻ, cấp trên sau đó rút ông về làm công tác chỉ huy và đào tạo, truyền dạy lại toàn bộ kinh nghiệm không chiến quý giá cho các thế hệ phi công kế cận.
Khi hòa bình lập lại, Trung tướng Nguyễn Văn Cốc từng giữ cương vị Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, rồi Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng trước khi nghỉ hưu. Rời khỏi buồng lái tiêm kích và những trận không chiến xé rách mây trời, người phi công huyền thoại trở về với nếp sống thanh bạch, khiêm nhường giữa đời thường.
Tên tuổi của ông cùng những cánh én bạc MiG-21 đã tạc nên một tượng đài huyền thoại trên bầu trời Việt Nam: câu chuyện về những người lính chân đất dám bay lên đối đầu với cỗ máy chiến tranh khổng lồ, chiến thắng đối phương không chỉ bằng sức mạnh động cơ, mà bằng lòng quả cảm vô song và ý chí sắt đá bảo vệ từng tấc trời quê hương.



