Nguyễn Văn Cốc – Người phi công với những trận không chiến lịch sử
Nếu các chiến sĩ bộ binh là những thiên thần hộ vệ mặt đất, thì lực lượng Không quân chính là những "cánh én" tung hoành trên bầu trời Việt. Họ không chỉ thuần thục kỹ năng lái máy bay mà còn mang trong mình bản lĩnh kiên cường với dòng máu nóng luôn sôi sục vì độc lập tự do của Tổ quốc. Nhắc đến Không quân Việt Nam, người dân không thể nào quên huyền thoại Nguyễn Văn Cốc - người đã lập nên chiến công hiển hách khi từng bắn rơi 9 máy bay Mỹ ở tuổi 25 tại miền Bắc Việt Nam, trở thành biểu tượng "én bạc" của Không quân Nhân dân Việt Nam.
Trung tướng Nguyễn Văn Cốc sinh năm 1942 tại xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh). Thân sinh của ông là cụ Nguyễn Văn Bảy, một cán bộ Việt Minh từng giữ chức Chủ tịch Mặt trận, nhưng đã bị thực dân Pháp sát hại vào năm 1947. Nỗi đau mất cha từ nhỏ vẫn chưa nguôi ngoai, ông luôn căm thù những kẻ cướp nước và nuôi chí đấu tranh chống Mỹ. Năm 1961, ông trúng tuyển phi công và sang Liên Xô học bay, đó cũng chính là bước màn cho những chiến công lẫy lừng của ông về sau.
Trở về nước, ông chiến đấu trong đội hình MiG-21 của Đoàn Không quân Sao Đỏ. Ông là một trong số 17 người duy nhất sống sót vượt qua chương trình đào tạo phi công khắc nghiệt, nơi từng có tới 120 học viên tham gia. Nhiều đêm, ông trăn trở tự hỏi liệu bản thân có thể sống sót nổi qua cuộc chiến khi chứng kiến từng người đồng đội lần lượt mắc vào bẫy chốt của địch trong trận Bolo tháng 1 năm 1967, từng người một rơi xuống mà không xác định được vị trí, họ không mang theo dù mà từng bước bị nhấn chìm sâu trong những đồi núi. Nhưng rồi ông không để nỗi đau đó nhấn chìm mình, ông quyết tâm kiến tạo, bộc phá, cùng với đội trưởng Nguyễn Ngọc Độ đã mày mò sáng chế những chiến thuật mới, những giáo trình hoàn toàn khác biệt, thứ mà ngay cả Liên Xô cũng chưa từng dạy.
Năm 1967, bầu trời miền Bắc trở thành chiến trường khốc liệt. Mỗi ngày, hàng trăm chiếc F-4 Phantom, F-105 Thunderchief ào ạt kéo đến, mang theo bom đạn và tên lửa. Chúng oai hùng và dữ dội, chúng nghĩ không ai có thể so kèo với độ hiện đại và cường tráng của Không quân Mỹ, uy hiếp bầu trời Việt Nam. Nhưng chúng đã nhầm. Chiếc MiG-21 mang số hiệu 4326 vẫn đang trực chờ trên đường băng Nội Bài, nhỏ bé, mỏng manh, dưới cánh chỉ mang vỏn vẹn 2 quả tên lửa, trong khi đối phương mang tới 8 quả. Thế nhưng, trong buồng lái chật hẹp, người phi công trẻ Nguyễn Văn Cốc chẳng hề bận tâm đến những con số hay sự hiện đại vượt trội của kẻ thù. Thứ ông mang trong mình chính là vũ khí mạnh mẽ nhất - lòng quả cảm và sự kiên định đầy kiêu hãnh. Khí phách của một chàng lính 25 tuổi luôn muốn dấn thân, đấu tranh vì độc lập tự do đã chẳng hề đoái hoài đến độ hiện đại của không quân Mỹ. Điều duy nhất ông quan tâm lúc đó là “Làm sao để bắn trúng.”
Trên bầu trời rực lửa miền Bắc năm 1967, nơi những trận không chiến được tính bằng từng giây bằng tốc độ siêu âm, các phi công đều dồn hết sức lực cho nhiệm vụ. Qua bộ đàm, họ liên lạc với nhau bằng sự bình tĩnh đến lạ thường, như thể đã thấu hiểu ý đồ của đồng đội, từng thao tác bấy giờ đã trở thành phản xạ. Nguyễn Văn Cốc giữ chặt cần lái, cảm nhận hơi nóng từ động cơ phả vào buồng lái. Trong chiến dịch lúc ấy, các đội hình "Chim cắt số 1" và "Chim cắt số 2" đều tham chiến. Nhiệm vụ của ông trong đội hình số 2 là phải hạn chế xuất hiện để yểm trợ cho đội 1, chính vì thế, mỗi lần ra trận đều phải cực kỳ thận trọng và dứt khoát, đánh trúng, đánh nhanh. Họ mang trên vai sứ mệnh quyết định thành bại của cả trận đánh. Chỉ cần chậm một nhịp, cái giá phải trả sẽ là sinh mạng. Trong chiến dịch Bolo, 5 chiếc MiG-21 đã bị bắn hạ, và khi chứng kiến đồng đội, những người đã cùng mình trải qua những ngày huấn luyện khắc nghiệt cùng mình ra đi, Nguyễn Văn Cốc xem đó như thất bại của chính mình. Ông ngồi trong khoang, điều chỉnh kính ngắm, quan sát thật kỹ, trong tâm trí vẫn ám ảnh trận Bolo. Ông tự nhủ sẽ không để mình bị đánh lừa bởi bất kỳ tín hiệu nào của đối phương. Vị trí của ông là cánh phải nơi tiềm lực để ông phát hiện ra những sơ hở mà có thể đội 1 chưa kịp thấy. Ông lặng lẽ chuẩn bị tinh thần cho một đòn đánh thứ hai, đúng vào khoảnh khắc quyết định. Chiếc MiG-21 tiếp tục lao lên cao, áp lực không khí ngày một nặng nề, động cơ gầm rú và hơi nóng tỏa ra ngày càng bốc, nhưng ông vẫn giữ một sự điềm tĩnh đáng sợ.
Vào đúng ngày 30-4-1967, gặp thời cơ thuận lợi, sau khi phi đội trưởng bắn hạ một máy bay F-105, ông cũng chớp thời cơ bắn hạ thêm một chiếc F-105 nữa. Đây là chiếc máy bay đầu tiên ông bắn hạ. Theo nguyên tắc chiến thuật, phi đội hai chiếc của MiG-21, ông trên vai trò phi công số 2 chỉ có nhiệm vụ yểm trợ, quan sát đối phương giúp cho số 1 vào công kích. Nguyễn Văn Cốc cải tiến chiến thuật, cùng tham gia tiêu diệt máy bay đối phương, do đó, hiệu suất phi đội tăng lên. Trước kia, do chỉ có số 1 công kích, tối đa phi đội chỉ bắn hạ được 2 máy bay đối phương (vì MiG-21 chỉ mang được 2 tên lửa). Theo chiến thuật cải tiến, phi đội của ông có thể bắn hạ được 3 máy bay đối phương. Để đạt được điều này, số 2 phải phán đoán và hành động chớp thời cơ rất nhanh. Do chiến thuật cải tiến này, ông được đồng đội đặt cho biệt danh là "Chim cắt số 2". Với chiến thuật cải tiến, chỉ riêng trong năm 1967, ông đã bắn rơi 6 máy bay đối phương. Trong tổng số 9 chiếc, có 6 chiếc ông bắn hạ ở vị trí số 2. Từ đó, chiến thuật cải tiến được đưa vào huấn luyện và đem lại hiệu quả tốt. Tiếp một năm sau ông lại bắn rơi thêm 3 máy bay của địch, tổng số máy bay trong 2 năm ông đã bắn hạ là 9 chiếc, bao gồm: 2 chiếc F4, 5 chiếc F105, 2 chiếc không người lái.
Chiến công hiển hách của ông đã làm cho đội không quân Mỹ phải hứng chịu cơn ác mộng vì đã dày vò và ra đòn tấn công Việt Nam. Nguyễn Văn Cốc, một người anh hùng, một cánh chim “dám nghĩ, dám làm” đã làm ngời sáng lên phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Ông chính là một cá nhân xuất sắc xứng đáng cho danh hiệu “Người chiến sĩ Phòng không - Không quân (PK-KQ) ưu tú” trên mặt trận bảo vệ bầu trời Tổ quốc., ngày 18/6/1969, Đại úy Nguyễn Văn Cốc được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1969, kỷ niệm thiêng liêng nhất đến với ông khi Bác Hồ gọi: “Chú Cốc đâu, lên Bác gặp!”. Bác nắm tay ông giơ lên giữa hội trường và chúc: “Năm mới, Quân chủng sẽ có nhiều Cốc hơn nữa”, đó chính là kỉ niệm vô giá nhất cuộc đời ông.
Hòa bình, ông công tác tại Quân chủng Phòng không - Không quân, phát triển lên cấp bậc Thiếu tướng, Tư lệnh Quân chủng, sau đó chuyển sang làm Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng. Năm 2002, ông nghỉ hưu với quân hàm Trung tướng. Ông được tặng 9 huy hiệu Bác Hồ trở thành phi công lập chiến công nhiều nhất của Không quân Việt Nam.
Nguyễn Văn Cốc đã cho thấy tinh thần dám đổi mới, sáng tạo nên những chiến thuật táo bạo để rồi mang về thắng lợi đáng được vinh danh và đầy tự hào cho Tổ quốc Việt Nam. Những chiến thuật ấy không được viết trong bất kỳ cuốn giáo trình nào của Liên Xô hay bất cứ trường bay nào trên thế giới, mà được đúc kết từ kinh nghiệm xương máu, những phần hồn của người đồng đội còn đọng lại trong ông, từ những đêm mất ngủ suy tư và từ khát vọng mãnh liệt được bảo vệ vùng trời thân yêu. Nhờ những sáng tạo ấy, Nguyễn Văn Cốc không chỉ trở thành phi công nổi bật nhất với 9 lần bắn rơi máy bay địch, mà còn là biểu tượng của trí tuệ và bản lĩnh của các chiến sĩ Việt Nam. Ông là minh chứng rằng chiến thắng không chỉ đến từ vũ khí hiện đại, mà quan trọng hơn cả là đến từ con người: Những con người dám nghĩ, dám làm, dám đứng lên từ mất mát để viết nên những trang sử hào hùng giữa bầu trời khói lửa
Những chiến công hiển hách của Không quân nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc mãi là biểu tượng sáng ngời của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần quyết tâm “dám đánh, biết đánh và quyết thắng” giặc Mỹ xâm lược. Đó là thắng lợi của ý chí, trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam được kế thừa và phát triển trong thời đại Hồ Chí Minh.
Đó là một phần ký ức không thể phai mờ của “thời hoa lửa” – thời mà những người lính trẻ bước vào cuộc chiến khi tuổi đời còn rất trẻ, mang theo trong tim tình yêu quê hương và khát vọng về một ngày đất nước được hòa bình, thống nhất. Với Nguyễn Văn Cốc, mỗi lần cất cánh không chỉ là một trận chiến với máy bay đối phương, mà còn là cuộc đấu tranh với nỗi đau mất mát và những ám ảnh về đồng đội đã hy sinh. Giữa bầu trời đầy bom đạn, ông cùng thế hệ phi công năm ấy đã biến tuổi xuân thành những năm tháng chiến đấu và cống hiến. Họ có thể đã bỏ lại phía sau những ước mơ riêng, những cuộc gặp gỡ gia đình và những ngày tháng bình yên, nhưng chính từ những hy sinh ấy đã góp phần giữ vững bầu trời Tổ quốc. “Thời hoa lửa” vì thế không chỉ được nhớ bằng những chiến công, mà còn bằng hình ảnh một thế hệ đã sống, chiến đấu và trưởng thành giữa khói lửa chiến tranh, để hôm nay đất nước được hưởng những năm tháng hòa bình.



