NGUYỄN VĂN CỪ- NGÔI SAO SÁNG NHẤT BẦU TRỜI CÁCH MẠNG TUỔI 26
Mỗi tấc đất Kinh Bắc – Bắc Ninh đều ngấm đượm dòng chảy sông Cầu thơ mộng, tiếng hát quan họ say đắm lòng người và một truyền thống khoa bảng, yêu nước tự ngàn đời. Thế nhưng, trong những năm tháng lầm than dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, mảnh đất thanh bình ấy cũng chính là nơi ủ mầm cho những phong trào phản kháng mãnh liệt. Giữa bối cảnh lịch sử bão táp ấy, có một người con đã lớn lên, mang theo hào khí của quê hương để viết nên một huyền thoại, một khúc tráng ca bất tử của “thời hoa lửa”. Người thanh niên ấy chính là Nguyễn Văn Cừ – người con ưu tú của làng Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, vị Tổng Bí thư trẻ tuổi nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, khi lật mở những trang sử vàng của dân tộc, câu chuyện về đồng chí Nguyễn Văn Cừ không chỉ là một bài học lịch sử khô khan trên trang giấy. Đó là một nguồn cảm hứng mãnh liệt về lý tưởng sống, về cái tuổi đôi mươi dám nghĩ, dám làm và dám hy sinh vì nghĩa lớn. Cuộc đời của ông tuy ngắn ngủi nhưng đã kịp cháy rực rỡ như một ngọn đuốc, soi sáng một giai đoạn tăm tối của cách mạng Việt Nam, để lại tiếng vang thiên thu cho hậu thế.
Sinh năm 1912 trong một gia đình nhà Nho nghèo giàu lòng yêu nước, ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Văn Cừ đã chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, đồng bào bị đày đọa dưới gót giày viễn chinh. Tinh thần phản kháng đã sớm nhen nhóm trong lòng cậu học trò trường Bưởi (Hà Nội). Ở cái tuổi mà bè bạn còn đang mơ mộng về một cuộc sống êm đềm, Nguyễn Văn Cừ đã dấn thân vào các phong trào bãi khóa, để rồi bị đuổi học và bắt đầu bước vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.
Để rèn luyện bản lĩnh và thấu hiểu nỗi khổ đau của giai cấp cần lao, người con Kinh Bắc ấy đã chủ động thực hiện cuộc hành trình “vô sản hóa”. Ông từ bỏ bục giảng và cuộc sống gia đình êm ấm để đến vùng mỏ Quảng Ninh – nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian” thời bấy giờ. Tại đây, dưới những căn hầm mỏ tối tăm, ẩm thấp ông đã sống, ăn, ở và lao động cực nhọc như một người phu mỏ thực thụ. Chính những giọt mồ hôi hòa lẫn dòng máu nóng nơi hầm mỏ đã đúc kết nên một ý chí sắt đá, một tư duy nhạy bén về phong trào công nhân. Ông không chỉ truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho những người lao động thầm lặng, mà còn biến họ thành lực lượng chính trị hùng hậu, sẵn sàng đứng lên khi thời cơ đến. Năm 1938, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông được bầu làm Tổng Bí thư khi mới bước sang tuổi 26. Đây là giai đoạn tình hình thế giới và trong nước diễn biến cực kỳ phức tạp khi Chiến tranh thế giới thứ hai cận kề, thực dân Pháp điên cuồng siết chặt ách kìm kẹp và khủng bố.
Trọng trách đặt lên vai người thanh niên 26 tuổi là vô cùng nặng nề. Thế nhưng, bằng nhãn quan chính trị thiên tài và sự nhạy bén thiên bẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã có những quyết sách làm thay đổi cục diện phong trào. Ông đã chủ trì Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11/1939), quyết định chuyển hướng chiến lược: thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và rút vào hoạt động bí mật. Đây chính là bước ngoặt quyết định, chuẩn bị nền tảng vững chắc cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công vang dội sau này.
Không chỉ có tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Văn Cừ còn để lại cho Đảng và nhân dân một di sản vô giá là tác phẩm “Tự chỉ trích” viết dưới bút danh Trí Cường vào năm 1939. Giữa lúc nội bộ Đảng có những bất đồng và xu hướng lệch lạc, vị Tổng Bí thư trẻ tuổi đã dũng cảm vạch rõ những khuyết điểm, sai lầm để toàn Đảng cùng sửa chữa. Tác phẩm là minh chứng hùng hồn cho tinh thần tự phê bình một cách thẳng thắn, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết. Cho đến tận ngày nay, bài học về “Tự chỉ trích” của ông vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương thế hệ cán bộ, đảng viên về lòng trung thực và tinh thần trách nhiệm.
Sự nghiệp đang trên đà tỏa sáng thì giông bão ập đến. Tháng 7 năm 1940, do sự phản bội, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị mật thám Pháp bắt giữ tại Sài Gòn. Biết ông là linh hồn của phong tào cách mạng, kẻ thù đã dùng mọi đòn tra tấn dã man nhất từ thời trung cổ cho đến hiện đại. Chúng đánh đập, dùng điện giật, kìm kẹp hòng bẻ gãy ý chí của người đứng đầu Đảng Cộng sản. Nhưng tất cả những hình phạt tàn khốc ấy đều bất lực trước một trái tim kiên trung. Trong suốt những ngày tháng bị giam cầm trong Khám Lớn Sài Gòn, kẻ thù không thể khai thác được bất kỳ một bí mật nào từ ông, ngoài nụ cười ngạo nghễ và ánh mắt rực lửa căm thù.
Không thể khuất phục được người chiến sĩ cộng sản, thực dân Pháp đã hèn nhát lập ra một tòa án phát xít để tuyên án tử hình ông. Sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, tại trường bắn Hóc Môn (Gia Định), chúng đưa đồng chí Nguyễn Văn Cừ cùng các đồng chí lãnh đạo khác như Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai ra pháp trường.
Thời khắc định mệnh ấy đã đi vào lịch sử như một biểu tượng đẹp đẽ nhất của “thời hoa lửa”. Khi quân thù tiến đến định dùng băng đen bịt mắt, Nguyễn Văn Cừ đã dứt khoát gạt phắt tay chúng ra. Ông muốn dùng đôi mắt của mình để nhìn thấu tim gan lũ cướp nước, muốn ngắm nhìn bầu trời quê hương lần cuối và chứng kiến ngày tàn của chế độ thực dân. Trước họng súng đen ngòm của loạt đạn hành quyết, người con Kinh Bắc ấy đã hiên ngang đứng thẳng, hô vang những khẩu hiệu: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!”, “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!”. Tiếng hô ấy vang vọng cả một vùng trời, át đi cả tiếng súng của kẻ thù, biến giây phút hành hình thành một bục vinh quang bất tử. Ông ngã xuống khi mới tròn 29 tuổi – độ tuổi rực rỡ nhất, đẹp đẽ của một đời người.
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã ra đi, nhưng tinh thần, khí phách và lòng yêu nước của ông thì sống mãi cùng non sông đất nước. Cuộc đời 29 năm ngắn ngủi của ông là một minh chứng hùng hồn cho câu nói: "Người ta chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí". Ông đã sống một cuộc đời trọn vẹn, dâng hiến từng giọt máu, từng hơi thở cho lý tưởng độc lập của dân tộc.
Trở lại với thế hệ trẻ hôm nay, chúng ta đang được sống trong hòa bình, độc lập, được tự do học tập và cống hiến. Thế nhưng, đôi khi giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, có những lúc chúng ta dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng, sống thiếu lý tưởng hoặc quên đi những giá trị thiêng liêng mà cha ông đã phải đánh đổi bằng xương máu. Câu chuyện về “thời hoa lửa” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chính là một hồi chuông cảnh tỉnh, một ngọn hải đăng soi rọi vào tâm hồn của mỗi bạn trẻ.
Mỗi khi đứng trước tượng đài của ông tại quê hương Phù Khê, lòng chúng ta lại dấy lên một niềm xúc động nghẹn ngào. Nguyện noi gương ông, tuổi trẻ ngày nay xin hứa sẽ sống hết mình với khát vọng, biến lòng tự hào dân tộc thành những hành động cụ thể, đóng góp vào công cuộc xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với truyền thống hào hùng của một miền đất thấm đượm linh khí và lòng yêu nước. Nguyễn Văn Cừ – tên anh đã hòa vào đất trời Kinh Bắc, trở thành ngọn đuốc bất diệt giữa trùng vây lịch sử, mãi mãi tỏa sáng trong tâm khảm của triệu triệu người con đất Việt.


