Bài viết

NGUYỄN VĂN CỪ - NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG

NGUYỄN VĂN CỪ - NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG

Hưng Yên25/11/2025Lê Tuấn Anh (Đoàn xã Nguyễn Văn Linh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN VĂN CỪ - NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG

Nguyễn Văn Cừ (1912 – 1941), ông sinh ra trong một gia đình Nho giáo, quê ở xã Phù Khê, tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Phù Khê, tỉnh Bắc Ninh).

Năm 1927, ông lên Hà Nội học trung học ở trường Bảo hộ và tham gia nhiều hoạt động yêu nước của học sinh. Đầu năm 1928, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tháng 5, ông bị chính quyền thực dân đuổi học, phải ra làng Hà Lỗ (Đông Anh) dạy học. Tháng 8, ông bị bắt và giam giữ 12 ngày. Sau khi ra trại giam, ông được Bí thư Tỉnh bộ Bắc Ninh Ngô Gia Tự giới thiệu cho Bí thư Thành bộ Hải Phòng Nguyễn Đức Cảnh, cử đến hoạt động ở khu mỏ Vàng Danh (Uông Bí) với bí danh Phùng. Ngày 17 tháng 6 năm 1929, Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng đầu tiên ở Hà Nội. Tháng 9, ông được điều về Thành ủy Hải Phòng, sau đó đến hoạt động ở mỏ Mạo Khê với bí danh Phùng Ngọc Tường. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ông được Nguyễn Đức Cảnh điều đi hoạt động ở các khu mỏ thuộc Quảng Yên, Hải Ninh. Tháng 10, ông được Xứ ủy Bắc Kỳ cử làm Đại diện của Xứ ủy bên cạnh Đặc khu ủy Hồng Gai – Uông Bí do Vũ Văn Hiếu làm Bí thư. Ngày 15 tháng 2 năm 1931, trên đường từ Cẩm Phả về Hòn Gai, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo. Tháng 11 năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động bí mật ở Hà Nội. Nguyễn Văn Cừ đã tập trung vào công tác khôi phục cơ sở Đảng và đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân và đã thành công trong việc lập lại Xứ ủy Bắc kỳ và trở thành ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ (tháng 3 năm 1937). Tháng 9 năm 1937, Nguyễn Văn Cừ được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở hội nghị Hóc Môn (Gia Định). Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương (29 tháng 3 năm 1938), ông được bầu làm Tổng Bí thư khi mới 26 tuổi. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Cừ đã cùng Trung ương Đảng xây dựng Nghị quyết "kiểm điểm các công tác, vạch ra nhiệm vụ của Đảng trong thời kỳ mới, xác định vấn đề lập Mặt trận dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại". Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, ông đã xúc tiến ngay việc thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành trung ương (tháng 11 năm 1939) đã quyết định những vấn đề quan trọng trong chuyển hướng chiến lược cách mạng. Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống nặng lãi và tạm gác khẩu hiệu lập chính quyền xô viết công nông binh, thay bằng thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ, thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương. Ngày 17 tháng 1 năm 1940, Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn, Vũ Văn Hiếu bị bắt ở Sài Gòn với nhiều tài liệu quan trọng và bị tòa tiểu hình Sài Gòn kết án tù. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, ông bị thực dân Pháp ghép vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương", "chủ trương bạo động" và là "người có trách nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, Nguyễn Văn Cừ bị xử bắn cùng lúc với một số Đảng viên Cộng sản khác như Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu... tại Ngã ba Giồng.

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một người cộng sản kiên trung, mẫu mực, nhà chính trị có bản lĩnh, luôn kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, nhà chỉ đạo chiến lược và sách lược tài tình, một tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam. Trong 13 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ nhiều lần bị thực dân Pháp bắt, giam cầm, tra tấn rất dã man, tàn bạo, nhưng đồng chí luôn nêu cao tinh thần kiên trung, bất khuất. Khi bị giải ra pháp trường, trước họng súng của kẻ thù, đồng chí vẫn hiên ngang tỏ rõ khí phách của người cộng sản. Những khẩu hiệu cách mạng mà Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và các đồng chí của mình hô vang trước lúc bị giặc Pháp xử bắn vào rạng sáng ngày 28-8-1941, còn vang vọng mãi đến hôm nay. Tấm gương hy sinh của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ như một biểu tượng bất diệt về lòng yêu nước, bằng chứng quật khởi của một dân tộc không chịu làm nô lệ, một dân tộc bị áp bức quyết đánh ngã kẻ thù. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là tấm gương sáng để các thế hệ sau học tập và noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn