Nguyễn Văn Cừ – Tổng Bí thư trẻ tuổi, nhà lãnh đạo cách mạng và tác giả tác phẩm “Tự chỉ trích”
Nguyễn Văn Cừ (9/7/1912 – 28/8/1941) là nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương từ tháng 3/1938 đến tháng 1/1940. Ông sinh tại làng Phù Khê, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước và hiếu học, thuộc dòng dõi Nguyễn Trãi. Tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn trẻ, ông tích cực thực hiện phong trào “vô sản hóa”, trực tiếp hoạt động trong đội ngũ công nhân vùng mỏ Đông Bắc và góp phần xây dựng tổ chức Đảng tại đây. Trên cương vị Tổng Bí thư, ông có nhiều đóng góp trong việc củng cố tổ chức Đảng, định hướng phong trào cách mạng và đề cao tinh thần phê bình, tự phê bình qua tác phẩm Tự chỉ trích. Tháng 8/1941, ông bị thực dân Pháp xử bắn tại Hóc Môn, Gia Định, khi mới 29 tuổi.
Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9 tháng 7 năm 1912 tại làng Phù Khê, tổng Nghĩa Lập, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống hiếu học và yêu nước. Thân phụ là cụ Nguyễn Trọng Mạo, thường được gọi là Đồ Quán; gia đình thuộc dòng dõi Nguyễn Trãi. Truyền thống quê hương và gia đình đã góp phần hình thành ở ông tinh thần ham học hỏi, lòng yêu nước và ý thức trước vận mệnh dân tộc.
Từ nhỏ, Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện tư chất thông minh, học giỏi. Sau khi học tại Trường Kiêm bị Pháp – Việt ở Bắc Ninh, ông thi vào Trường Bưởi (Hà Nội). Trong thời gian học tập, ông sớm tiếp xúc với tư tưởng cách mạng và tham gia các hoạt động yêu nước của học sinh. Năm 1927, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Những hoạt động vận động quần chúng và đấu tranh chống áp bức khiến ông bị nhà trường đuổi học. Việc phải rời trường không làm ông từ bỏ con đường hoạt động cách mạng mà càng thôi thúc ông dấn thân vào thực tiễn phong trào.
Năm 1928, hưởng ứng chủ trương “vô sản hóa” của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Nguyễn Văn Cừ ra vùng mỏ Đông Bắc, làm công nhân tại mỏ than Vàng Danh. Ông sử dụng bí danh Phùng, trực tiếp lao động, sinh hoạt cùng công nhân, tìm hiểu đời sống của người lao động và tuyên truyền, vận động họ tham gia phong trào đấu tranh. Đây là giai đoạn quan trọng giúp ông gắn bó sâu sắc hơn với phong trào công nhân, đồng thời góp phần truyền bá tư tưởng cách mạng trong khu vực mỏ.
Tháng 6 năm 1929, Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào tháng 2 năm 1930, ông tiếp tục được phân công hoạt động tại vùng mỏ Hòn Gai – Uông Bí. Ông giữ vai trò Bí thư Đặc khu ủy Hòn Gai – Uông Bí, trực tiếp xây dựng cơ sở Đảng, phát triển lực lượng cách mạng và vận động công nhân mỏ tham gia đấu tranh. Dưới sự hoạt động của ông và các đồng chí, tổ chức Đảng từng bước được xây dựng tại các địa bàn như Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh, Hòn Gai và Cẩm Phả.
Cuối năm 1931, Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt giữ. Ông trải qua thời gian bị giam tại các nhà tù Hòn Gai, Hỏa Lò và Côn Đảo. Trong điều kiện tù đày khắc nghiệt, ông vẫn giữ vững tinh thần cách mạng, tiếp tục tham gia sinh hoạt, học tập và đấu tranh cùng các chiến sĩ cách mạng bị giam giữ. Đến tháng 9 năm 1936, ông được trả tự do. Sau khi trở về, ông nhanh chóng tham gia hoạt động khôi phục tổ chức Đảng, góp phần xây dựng lại Xứ ủy Bắc Kỳ và củng cố phong trào cách mạng trong tình hình mới.
Tháng 9 năm 1937, Nguyễn Văn Cừ được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Đến tháng 3 năm 1938, tại Hội nghị Trung ương Đảng, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 25 tuổi (chưa đầy 26 tuổi). Trên cương vị này, ông cùng Trung ương lãnh đạo phong trào cách mạng trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động. Ông chú trọng củng cố tổ chức Đảng, tăng cường mối liên hệ với quần chúng, đồng thời đề ra những chủ trương phù hợp với tình hình thực tiễn.
Một dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp của Nguyễn Văn Cừ là tác phẩm “Tự chỉ trích”, được viết và công bố vào tháng 7 năm 1939. Trong tác phẩm, ông đề cập đến ý nghĩa và yêu cầu của việc phê bình, tự phê bình trong Đảng; nhấn mạnh cần nhìn thẳng vào những hạn chế, khuyết điểm, phân tích nguyên nhân và sửa chữa để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức. Tác phẩm thể hiện tư duy lý luận và sự quan tâm của ông đối với việc xây dựng một tổ chức Đảng có kỷ luật, đoàn kết và gắn bó với quần chúng. Đến nay, Tự chỉ trích vẫn được nhắc đến như một tác phẩm có ý nghĩa trong lịch sử tư tưởng và công tác xây dựng Đảng.
Tháng 11 năm 1939, Nguyễn Văn Cừ tham gia triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng tại Bà Điểm, Gia Định. Hội nghị quyết định điều chỉnh phương hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Đây là một bước chuyển quan trọng trong quá trình điều chỉnh đường lối cách mạng trước tình hình Chiến tranh thế giới thứ hai và chính sách đàn áp của thực dân Pháp.
Tháng 1 năm 1940, Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Sau đó, ông bị giam giữ và đưa ra xét xử trong bối cảnh chính quyền thực dân tăng cường đàn áp phong trào cách mạng, đặc biệt sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940. Thực dân Pháp kết án tử hình ông cùng nhiều cán bộ lãnh đạo cách mạng khác. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, Nguyễn Văn Cừ bị xử bắn tại Hóc Môn, Gia Định, cùng các đồng chí Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu và Nguyễn Thị Minh Khai. Ông hy sinh khi mới 29 tuổi.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Văn Cừ tuy ngắn ngủi nhưng gắn liền với nhiều dấu mốc quan trọng của lịch sử Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam. Từ một người thanh niên tham gia phong trào yêu nước, ông đã trưởng thành qua thực tiễn lao động, vận động công nhân, xây dựng tổ chức Đảng và đảm nhiệm trọng trách Tổng Bí thư. Ông được ghi nhớ không chỉ bởi vai trò lãnh đạo mà còn qua tư duy lý luận thể hiện trong tác phẩm Tự chỉ trích, tinh thần trách nhiệm và sự kiên định trước những thử thách của cách mạng.



