Nguyễn Văn Cừ – Trí tuệ kiệt xuất và tầm nhìn chiến lược của người Tổng Bí thư trẻ tuổi
Nguyễn Văn Cừ – Trí tuệ kiệt xuất và tầm nhìn chiến lược của người Tổng Bí thư trẻ tuổi
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ghi nhận sự xuất hiện của những nhà lãnh đạo lỗi lạc từ khi tuổi đời còn rất trẻ, và đồng chí Nguyễn Văn Cừ chính là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất cho trí tuệ thiên bẩm, bản lĩnh chính trị vững vàng và tầm nhìn chiến lược vượt thời đại.
Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo tại làng Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh – vùng đất nổi tiếng hiếu học và giàu truyền thống văn hóa, Nguyễn Văn Cừ sớm tiếp thu tư tưởng mác-xít từ những năm tháng học tập tại trường Bưởi (Hà Nội). Năm mười bảy tuổi (1929), anh đã gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng và nhanh chóng khẳng định năng lực xuất sắc trong công tác tuyên truyền, vận động công nhân vùng mỏ Quảng Ninh. Năm 1931, anh bị thực dân Pháp bắt giam và đày đi Côn Đảo.
Chính tại chốn lao tù cực hình ấy, ngọn lửa cách mạng trong anh không những không bị dập tắt mà càng được tôi luyện thêm phần sắc bén. Nguyễn Văn Cừ biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, cùng các đồng chí nghiên cứu sâu về chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi được trả tự do vào năm 1936, anh nhanh chóng bắt tay vào việc khôi phục hệ thống tổ chức Đảng đang gặp nhiều khó khăn, lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ thời kỳ Đông Dương Đại hội.
Tháng 3 năm 1938, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Hóc Môn (Gia Định), khi mới tròn hai mươi sáu tuổi, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Trên cương vị người đứng đầu, anh đã thể hiện tư duy lý luận xuất sắc qua tác phẩm nổi tiếng "Tự chỉ trích" (xuất bản tháng 7 năm 1939) – một văn kiện lịch sử đặt nền móng cho công tác tự phê bình và phê bình, uốn nắn những lệch lạc trong Đảng nhằm tăng cường khối đoàn kết nội bộ.
Trước sự chuyển biến của tình hình thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chủ trì Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11 năm 1939), quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương, thay đổi chiến lược từ đấu tranh dân sinh dân chủ sang đấu tranh giải phóng dân tộc. Giữa lúc tài năng đang độ chín muồi, ngày 18 tháng 11 năm 1939, anh bị địch bắt tại Sài Gòn. Sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, dù không trực tiếp tham gia chỉ đạo do đang bị giam cầm, thực dân Pháp vẫn kết tội anh chịu trách nhiệm tinh thần và đưa anh ra xử bắn tại ngã ba Giồng, Hóc Môn vào ngày 28 tháng 8 năm 1941. Anh hy sinh khi mới hai mươi chín tuổi đời, để lại tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng và toàn dân về một bộ óc chiến lược thiên tài lỗi lạc.



