Bài viết

NGUYỄN VĂN CỪ – TUỔI TRẺ KIÊN TRUNG VỚI CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG

Bắc Ninh23/08/2026Huỳnh Phương Uyên (Bắc Ruộng)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những con người dù cuộc đời ngắn ngủi nhưng những gì họ để lại vẫn vượt qua giới hạn của thời gian. Nguyễn Văn Cừ là một trong những người như vậy. Gần ba thập kỷ sống trên đời, ông đã trải qua nhiều chặng đường đặc biệt: từ một người học trò yêu nước, người công nhân vùng mỏ đến nhà lãnh đạo cách mạng. Cuộc đời ông gắn liền với những năm tháng đấu tranh đầy gian khó của dân tộc.

Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9/7/1912 tại Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống học tập. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã quan tâm đến tình hình đất nước và tham gia các hoạt động yêu nước. Khi học tại Trường Bưởi ở Hà Nội, những hoạt động của ông khiến chính quyền thực dân chú ý và ông bị đuổi học. Tuy vậy, việc rời trường không khiến người thanh niên ấy từ bỏ con đường mình đã lựa chọn.

Năm 1928, Nguyễn Văn Cừ đến vùng mỏ Vàng Danh làm công nhân. Tại đây, ông trực tiếp chứng kiến cuộc sống khó khăn của người lao động và tích cực tuyên truyền, vận động công nhân tham gia phong trào cách mạng. Tháng 6/1929, ông gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Từ một thanh niên trẻ, ông từng bước trở thành một cán bộ có vai trò trong việc xây dựng và phát triển phong trào.

Cuối năm 1931, Nguyễn Văn Cừ bị bắt và trải qua nhiều năm bị giam giữ tại các nhà tù của thực dân Pháp. Tuy phải sống trong điều kiện khắc nghiệt, ông vẫn tiếp tục học tập, trao đổi lý luận và giữ vững niềm tin. Khi được trả tự do năm 1936, ông nhanh chóng trở lại hoạt động cách mạng và tham gia khôi phục tổ chức Đảng.

Tháng 3/1938, khi chưa đầy 26 tuổi, Nguyễn Văn Cừ được giao giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là một trọng trách lớn đối với một người còn rất trẻ. Trong thời gian lãnh đạo, ông đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng tổ chức và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ.

Một trong những dấu ấn đáng chú ý của Nguyễn Văn Cừ là tác phẩm “Tự chỉ trích” năm 1939. Qua tác phẩm này, ông nhấn mạnh sự cần thiết của việc nhìn nhận những hạn chế, sửa chữa thiếu sót và củng cố sự đoàn kết trong tổ chức. Tư tưởng ấy cho thấy một người lãnh đạo không chỉ quan tâm đến thắng lợi trước mắt mà còn chú trọng xây dựng nền tảng lâu dài.

Cuối năm 1939, tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều biến động khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Hội nghị Trung ương lần thứ 6 được tổ chức tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định từ ngày 6 đến 8/11/1939 dưới sự chủ trì của Nguyễn Văn Cừ. Hội nghị xác định cần chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc vào vị trí quan trọng, phù hợp với tình hình mới.

Ngày 18/1/1940, Nguyễn Văn Cừ bị bắt tại Sài Gòn. Sau đó, ông bị kết án tử hình. Ngày 28/8/1941, ông hy sinh tại Bà Điểm, Hóc Môn khi mới 29 tuổi. Một cuộc đời đang ở tuổi thanh xuân đã dừng lại, nhưng những đóng góp của ông cho phong trào cách mạng vẫn được lịch sử ghi nhớ.

Điều đáng trân trọng ở Nguyễn Văn Cừ không chỉ nằm ở chức vụ ông từng đảm nhiệm hay sự hy sinh của ông, mà còn ở quá trình trưởng thành qua từng chặng đường. Từ lớp học đến vùng mỏ, từ nhà tù trở lại hoạt động cách mạng rồi đảm nhận trọng trách lớn, ông luôn thể hiện sự kiên định và tinh thần trách nhiệm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do.” (Hồ Chí Minh) Đối với thế hệ của Nguyễn Văn Cừ, lý tưởng ấy không chỉ là một lời nói mà được thể hiện bằng hành động và sự cống hiến. Dù không sống đến ngày đất nước giành được độc lập, ông đã góp một phần quan trọng vào quá trình chuẩn bị cho những thắng lợi về sau.

Nguyễn Văn Cừ ra đi ở tuổi 29, nhưng tuổi trẻ của ông không trôi qua vô nghĩa. Những năm tháng ấy đã trở thành một phần của lịch sử, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của lý tưởng, trách nhiệm và lòng kiên định trước những thử thách của cuộc đời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn