Nguyễn Văn Cừ – Tuổi xuân dâng trọn cho Tổ quốc
Nguyễn Văn Cừ – Tuổi xuân dâng trọn cho Tổ quốc
Nguyễn Văn Cừ – Tuổi xuân dâng trọn cho Tổ quốc
Có những con người đi qua cuộc đời rất nhanh, nhưng ánh sáng họ để lại thì tồn tại mãi. Có những tuổi trẻ chưa kịp sống trọn những ước mơ riêng, chưa kịp tận hưởng một ngày bình yên, đã phải lựa chọn giữa con đường sống cho bản thân và con đường sống cho dân tộc. Nguyễn Văn Cừ là một người như thế.
Nhắc đến ông, tôi luôn nghĩ đến hình ảnh một người thanh niên mang trong mình một trái tim nóng bỏng và một trí tuệ sắc sảo, đã dành trọn tuổi xuân cho cách mạng. Cuộc đời ông chỉ vẻn vẹn 29 năm, nhưng hơn mười ba năm trong số đó đã gắn với hoạt động cách mạng, với những cuộc đấu tranh, tù đày và những năm tháng đầy hiểm nguy. Ông hy sinh khi tuổi đời còn quá trẻ, nhưng tên tuổi và những cống hiến của ông đã trở thành một phần không thể phai mờ trong lịch sử dân tộc.
Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9 tháng 7 năm 1912 tại Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, ông sớm tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và chứng kiến cảnh đất nước mất độc lập, nhân dân chịu nhiều áp bức. Ngay từ khi còn là học sinh trường Bưởi ở Hà Nội, ông đã tham gia hoạt động yêu nước. Sau khi bị đuổi học, ông trở về quê, tiếp tục hoạt động và tìm đến những người cùng chung lý tưởng.
Năm 1928, khi mới mười sáu tuổi, Nguyễn Văn Cừ thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, ra mỏ Vàng Danh làm công nhân. Đó là một lựa chọn rất đặc biệt đối với một người trẻ tuổi. Ông không đứng ngoài để quan sát cuộc sống của người lao động, mà trực tiếp hòa mình vào cuộc sống của họ, làm việc cùng họ, hiểu những khó khăn và từng bước tuyên truyền, giác ngộ công nhân.
Từ những hầm mỏ đầy bụi than ấy, một người chiến sĩ cách mạng đã trưởng thành.
Năm 1929, Nguyễn Văn Cừ gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ông tiếp tục hoạt động ở vùng Hòn Gai – Uông Bí. Nhưng con đường cách mạng mà ông lựa chọn nhanh chóng đưa ông đến với những nhà tù thực dân.
Cuối năm 1931, Nguyễn Văn Cừ bị bắt. Từ năm 1931 đến năm 1936, ông lần lượt bị giam tại các nhà tù Hòn Gai, Hỏa Lò và Côn Đảo. Gần năm năm bị giam cầm là một khoảng thời gian dài đối với một người trẻ. Nhưng nhà tù không thể làm ông từ bỏ lý tưởng. Trái lại, những năm tháng khắc nghiệt ấy càng tôi luyện ý chí và bản lĩnh của người chiến sĩ.
Tôi nghĩ, có lẽ không có gì thử thách một con người rõ hơn những ngày tháng bị tước đoạt tự do.
Khi cánh cửa nhà tù đóng lại, người ta có thể mất đi rất nhiều thứ: tự do, cuộc sống bình thường, cơ hội được ở bên gia đình. Nhưng Nguyễn Văn Cừ vẫn giữ được điều quan trọng nhất – niềm tin vào con đường mình đã lựa chọn.
Sau khi được trả tự do, ông nhanh chóng trở lại hoạt động cách mạng. Năm 1937, ông được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Đến tháng 3 năm 1938, khi chưa đầy 26 tuổi, Nguyễn Văn Cừ được cử làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương.
Hai mươi sáu tuổi.
Một tuổi đời mà ngày hôm nay nhiều người trẻ vẫn đang loay hoay tìm hướng đi cho riêng mình. Nhưng Nguyễn Văn Cừ ở tuổi ấy đã mang trên vai một trọng trách lớn lao giữa một hoàn cảnh lịch sử vô cùng phức tạp. Đất nước vẫn chưa giành được độc lập, phong trào cách mạng phải đối mặt với sự đàn áp, còn tình hình thế giới đang chuyển biến nhanh chóng.
Ở cương vị Tổng Bí thư, ông thể hiện một tư duy chính trị sắc bén và khả năng nhìn nhận vấn đề rất sâu sắc. Một trong những dấu ấn nổi bật của ông là tác phẩm “Tự chỉ trích”, viết năm 1939 dưới bút danh Trí Cường.
“Tự chỉ trích” cho thấy một phẩm chất đáng quý của Nguyễn Văn Cừ: dám nhìn thẳng vào những hạn chế, khuyết điểm để sửa chữa và củng cố sự đoàn kết. Với ông, phê bình không nhằm chia rẽ mà để tổ chức mạnh hơn, để những người cùng lý tưởng có thể nhìn lại mình và cùng tiến về phía trước.
Điều đó khiến tôi đặc biệt ấn tượng.
Bởi trong cuộc sống, thừa nhận mình đúng luôn dễ hơn thừa nhận mình có sai sót. Nhưng một người lãnh đạo có bản lĩnh không phải là người không bao giờ mắc sai lầm, mà là người đủ dũng khí để nhìn vào sai lầm và sửa chữa nó.
Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện phẩm chất ấy trong một hoàn cảnh mà mỗi quyết định đều có thể ảnh hưởng đến phong trào cách mạng.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, tình hình cách mạng thay đổi nhanh chóng. Nguyễn Văn Cừ cùng Trung ương Đảng từng bước chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên vị trí cấp thiết. Tháng 11 năm 1939, ông triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương tại Bà Điểm, góp phần đưa cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mới.
Nhưng giữa lúc phong trào đang chuyển sang một giai đoạn quan trọng, ngày 18 tháng 1 năm 1940, Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn.
Lần này, ông không còn cơ hội trở lại.
Sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp quy kết Nguyễn Văn Cừ có trách nhiệm tinh thần đối với cuộc khởi nghĩa và kết án tử hình ông. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, tại Ngã Ba Giồng, Hóc Môn, Nguyễn Văn Cừ cùng một số đồng chí bị đưa ra xử bắn.
Ông mới 29 tuổi.
Tôi đã nghĩ rất lâu về con số ấy.
Hai mươi chín tuổi – đáng lẽ vẫn còn rất nhiều ngày phía trước. Một người ở tuổi ấy có thể còn có biết bao ước mơ, có thể còn muốn trở về quê hương, gặp lại gia đình, sống một cuộc đời bình dị sau những năm tháng gian khổ.
Nhưng Nguyễn Văn Cừ đã không có cơ hội ấy.
Ông đã dành tuổi trẻ của mình cho một tương lai mà chính ông không được nhìn thấy.
Ông hy sinh khi đất nước vẫn chưa độc lập.
Ông không được chứng kiến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công.
Không được nhìn thấy ngày non sông thống nhất.
Nhưng những người như Nguyễn Văn Cừ đâu phải chiến đấu vì phần thưởng dành cho riêng mình. Họ chiến đấu bởi họ tin rằng những thế hệ sau sẽ được sống trong một đất nước tự do hơn.
Có lẽ đó chính là sự hy sinh cao đẹp nhất.
Làm một việc mà mình có thể không bao giờ nhìn thấy thành quả, nhưng vẫn tin rằng một ngày nào đó, thành quả ấy sẽ thuộc về dân tộc.
Khi nghĩ về Nguyễn Văn Cừ, tôi lại nghĩ đến hai chữ “hoa lửa”.
“Hoa” là tuổi trẻ, là những ước mơ, là những năm tháng đẹp nhất của đời người.
“Lửa” là chiến tranh, là tù đày, là hiểm nguy và mất mát.
Nguyễn Văn Cừ đã sống giữa “hoa” và “lửa”. Tuổi trẻ của ông đáng lẽ có thể rất đẹp theo một cách khác, nhưng ông đã chọn để tuổi trẻ của mình cháy lên trong ngọn lửa cách mạng.
Có những đóa hoa cần được nâng niu trong bình yên mới có thể nở.
Nhưng cũng có những đóa hoa chỉ thực sự làm người ta nhớ mãi khi chúng nở giữa gian khó.
Nguyễn Văn Cừ chính là một đóa hoa như thế.
Cuộc đời ông ngắn ngủi, nhưng mỗi chặng đường đều để lại một dấu ấn: từ người học sinh yêu nước, người công nhân ở mỏ than, người tù cách mạng, đến một nhà lãnh đạo trẻ tuổi. Ông đã đi qua rất nhiều thử thách nhưng chưa bao giờ từ bỏ con đường mình đã chọn.
Ngày hôm nay, chúng ta được sống trong hòa bình. Những người trẻ có thể học tập, làm việc, yêu thương và theo đuổi ước mơ mà không phải sống trong những căn hầm bí mật hay đối diện với họng súng của kẻ thù.
Nhưng khi nhìn lại cuộc đời Nguyễn Văn Cừ, tôi hiểu rằng những điều bình thường ấy không hề tự nhiên mà có.
Đằng sau mỗi ngày bình yên là biết bao tuổi trẻ đã bị chiến tranh lấy đi.
Đằng sau những con đường chúng ta đang bước đi là những con đường mà thế hệ trước đã đi bằng máu và nước mắt.
Và đằng sau hai chữ “độc lập” là những con người đã không kịp sống đến ngày độc lập.
Nguyễn Văn Cừ là một trong những người như thế.
Ông nhắc chúng ta rằng tuổi trẻ không chỉ có nghĩa là sống cho những ước mơ của riêng mình. Tuổi trẻ còn là thời điểm con người có thể lựa chọn mình muốn trở thành ai và muốn đóng góp điều gì cho quê hương.
Chúng ta hôm nay không cần phải hy sinh như thế hệ của Nguyễn Văn Cừ. Nhưng chúng ta có thể tiếp nối họ bằng cách sống có trách nhiệm hơn với đất nước, nghiêm túc hơn với việc học tập, tử tế hơn với cộng đồng và biết trân trọng những giá trị mà cha ông đã đánh đổi để giành lấy.
Nếu thế hệ Nguyễn Văn Cừ đã dùng tuổi trẻ để mở đường cho độc lập, thì thế hệ chúng ta phải biết dùng tuổi trẻ để xây dựng một đất nước tốt đẹp hơn.
Hai mươi chín tuổi đời của Nguyễn Văn Cừ đã khép lại từ rất lâu, nhưng câu chuyện về ông chưa bao giờ kết thúc.
Bởi có những cuộc đời tuy ngắn nhưng không hề nhỏ bé.
Có những người không sống đến ngày bình minh nhưng đã góp phần thắp lên ngọn lửa để bình minh đến.
Có những người không kịp nhìn thấy mùa xuân của đất nước nhưng đã gửi cả tuổi xuân của mình vào mùa xuân ấy.
Nguyễn Văn Cừ là một người như thế.
Ông đã ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng lý tưởng và những cống hiến của ông vẫn còn ở lại. Trong ký ức của dân tộc, ông không chỉ là một Tổng Bí thư trẻ tuổi, một nhà lãnh đạo tài năng, mà còn là biểu tượng của một thế hệ đã sống hết mình cho Tổ quốc.
Và mỗi khi nhớ về ông, tôi lại tự nhắc mình rằng: hòa bình hôm nay là món quà được trao bằng tuổi trẻ của những người đi trước. Vì thế, cách tốt nhất để tri ân họ không chỉ là nhớ về quá khứ, mà còn là sống sao cho xứng đáng với tương lai mà họ đã hy sinh để chúng ta có được.
Nguyễn Văn Cừ đã gửi lại tuổi xuân của mình cho đất nước.
Tuổi xuân ấy đã hóa thành một phần của lịch sử.
Một phần của mùa xuân dân tộc.
Và một ngọn lửa không bao giờ tắt trong câu chuyện “thời hoa lửa” của Việt Nam.



