Nguyễn Văn Dân
Dưới đây là một bài ký sự mà tôi vừa ghi chép lại. Câu chuyện về một người thợ hớt tóc vỉa hè ở một góc phố miền Tây, mang trong mình cả một khung trời rực lửa của chiến trường K (Campuchia).
KÝ SỰ: TIẾNG KÉO LÁCH CÁCH VÀ NHỮNG MÙA KHÔ RỪNG KHỘP
Góc ngã tư đường nhộn nhịp xe cộ qua lại, dưới tán cây bàng già rợp bóng mát, có một "tiệm" hớt tóc vô cùng giản dị. Một chiếc gương ố màu thời gian treo tươm tất trên thân cây, một chiếc ghế đẩu bọc da đã sờn, và một hộp đồ nghề nhỏ xíu. Chủ nhân của góc nhỏ ấy là ông Ba Dân. Nhìn đôi bàn tay thô ráp, nổi đầy gân xanh nhưng lại cầm lưỡi dao cạo điêu luyện, lướt nhẹ tựa lông hồng trên mặt khách, ít ai ngờ bàn tay ấy từng ghì chặt báng súng AK, nhuốm đầy bùn đất và máu ở những cánh rừng khộp biên giới Tây Nam.
Ông tên thật là Nguyễn Văn Dân, năm nay vừa tròn 65 tuổi. Khách quen của ông đa phần là những chú xe ôm gác ngã tư, mấy cậu sinh viên xóm trọ nghèo, hay những ông lão hưu trí thích ra đây vừa hớt tóc, vừa nhâm nhi ly trà đá đánh cờ tướng.
"Cái nghề này ngó vậy mà khó nhen nhà báo. Dao cạo mà đưa chệch một ly là đứt da người ta như chơi. Phải nín thở, tay phải thật đằm," ông Ba Dân cười khà khà, tiện tay phẩy chiếc chổi lông mềm phủi những vụn tóc rơi trên vai vị khách vừa cạo râu xong.
Ông nói về sự điêu luyện của nghề hớt tóc, nhưng đôi mắt sâu hoắm lại ánh lên một tia nhìn sắc lạnh, cái nhìn của một người lính dạn dày sương gió. Năm 1981, chàng thanh niên Ba Dân lên đường nhập ngũ, thuộc biên chế của Mặt trận 979, hành quân sang đất bạn Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế.
Ký ức của ông không phải là những trang sử hào hùng chói lọi, mà là những ngày hành quân khát khô cả cổ họng giữa mùa khô Pursat.
"Mùa khô bên đó khắc nghiệt lắm. Rừng khộp rụng trụi lá, đất nứt nẻ. Tụi tui hành quân, nước quý hơn vàng," ông châm điếu thuốc, rít một hơi dài, nhả khói lên vòm lá bàng. "Có những trận phục kích, nằm im lìm trong bụi gai đến rách cả thịt, kiến vàng cắn nát lưng mà không dám cựa quậy. Thằng Tâm, bạn thân cùng xóm với tui, hy sinh năm 83 vì đạp trúng mìn K58 khi đi tải nước cho tiểu đội. Nó ngã xuống, tay vẫn còn nắm chặt cái can nhựa xám."
Giọng ông bình thản, không có tiếng nấc, cũng chẳng có nước mắt. Những người lính đi qua lằn ranh sinh tử nhiều quá, dường như nỗi đau đã lặn sâu vào trong, hóa thành một sự trầm mặc, can trường đến nghẹn lòng.
Năm 1986, ông Ba Dân phục viên trở về quê hương. Không kèn trống cờ hoa, ông mang chiếc ba lô con cóc bạc màu lê bước trên con đường đất đỏ về nhà. Mẹ ông khóc ngất, còn ông thì ôm lấy bà, mỉm cười: "Má ơi, con còn sống về đây rồi!".
Trở lại đời thường, người cựu binh phải đối mặt với một cuộc chiến khác: Cuộc chiến mưu sinh. Vốn liếng không có, sức khỏe giảm sút do những cơn sốt rét rừng hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, ông sắm bộ đồ nghề hớt tóc dạo. Rồi từ dạo chuyển sang ngồi cố định dưới gốc bàng này, thấm thoắt cũng đã gần 30 năm.
Vợ ông bán xôi ở đầu hẻm, hai vợ chồng tằn tiện nuôi ba đứa con ăn học đàng hoàng. Đến nay, các con đều đã có gia đình, khuyên ông nghỉ ngơi ở nhà dưỡng lão, nhưng ông gạt đi.
"Tui ngồi đây không hẳn vì tiền nữa. Ngồi ngắm phố phường chộn rộn, nghe tiếng kéo lách cách, nghe mấy ông khách cãi nhau chuyện thời sự... tui thấy mình còn sống. Hòa bình với tui giản dị lắm, là sáng mở mắt ra không nghe tiếng pháo rít, là được cầm tờ báo đọc tin tức, là cái cảnh mọi người hối hả đi làm thế này đây," ông Ba Dân vừa nói, vừa cẩn thận mài lại chiếc kéo cắt tóc.
Chiều muộn, nắng xiên qua tán bàng in những bóng đổ dài trên mặt đường. Ông Ba Dân thu dọn đồ nghề, khóa cẩn thận vào chiếc hòm gỗ. Bức tranh về người lính năm xưa và ông thợ hớt tóc hôm nay hòa làm một. Chẳng có ánh hào quang nào lấp lánh xung quanh ông, chỉ có sự điềm tĩnh, vững chãi của một con người đã đi qua tận cùng của khốc liệt, nay biết trọn vẹn nâng niu từng nhịp đập của sự bình yên.



