NGUYỄN VĂN ĐĂNG - TRƯỚC MÙA ĐOÀN TỤ
Người sau không cần sống lại những ngày ấy. Điều cần hơn là giữ một sự hiểu biết đủ sâu để không coi quá khứ như một câu chuyện xa lạ. Khi hiểu rằng trước ngày đoàn tụ đã có biết bao quãng đời âm thầm đi qua, người hôm nay sẽ thấy bình yên không chỉ là một trạng thái của đất nước mà còn là món quà của lịch sử gửi đến từng gia đình, từng con người.
TRƯỚC MÙA ĐOÀN TỤ
Hồi ức “Thời hoa lửa” về cựu chiến binh Nguyễn Văn Đăng
Một bước chân rời Thiệu Hóa
Một giọt mưa rơi xuống mặt nước chỉ tạo thành vài vòng tròn nhỏ, nhưng những vòng tròn ấy cứ lan ra mãi trước khi tan vào khoảng rộng. Tôi thường nghĩ tuổi trẻ của mình cũng như thế. Một quãng đời không dài, tưởng đã chìm sâu sau nhiều năm, nhưng mỗi khi ngoảnh lại vẫn thấy những dư âm lan ra trong cách mình nghĩ về quê hương, đồng đội và những ngày bình yên hôm nay. Tôi là Nguyễn Văn Đăng, sinh năm 1952, quê Thiệu Hóa. Năm 1972, khi khoảng hai mươi tuổi, tôi nhập ngũ, quãng phục vụ gắn với C3 D7 E271 và kéo dài đến năm 1974. Tôi bước vào hàng ngũ trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn đang diễn ra quyết liệt và trở về khi chiến tranh chưa kết thúc. Chỉ ít lâu sau đó đất nước mới đi đến ngày toàn thắng, nhưng phần quân ngũ của tôi đã khép lại trước cột mốc lịch sử ấy. Vì thế, mỗi khi nghĩ về quãng đời 1972–1974, tôi luôn nhớ đó là những năm mình đã sống giữa một hành trình còn dang dở của non sông.
Tuổi hai mươi vốn là lúc con người bắt đầu hình dung rõ hơn về tương lai. Tôi cũng có những ước mong rất bình thường: được ở gần gia đình, được làm một công việc, rồi từng bước dựng xây cuộc sống của mình. Nhưng năm 1972, đất nước vẫn chia cắt, chiến tranh vẫn phủ bóng lên rất nhiều số phận. Với thế hệ chúng tôi, những dự định riêng không thể hoàn toàn tách khỏi những gì đang diễn ra ngoài kia. Tôi hiểu rằng mình sinh ra trong một thời mà người trẻ phải sớm biết đặt câu hỏi không chỉ “mình muốn gì”, mà còn “mình cần làm gì”. Bước vào quân đội vì thế là một sự chuyển đổi lớn: từ đời sống quen thuộc của một người con quê Thiệu Hóa sang nếp sống tập thể, nơi mỗi ngày đều nhắc mình rằng tuổi trẻ không chỉ thuộc về riêng bản thân.
Xa quê, điều làm tôi day dứt nhất không phải một hình ảnh cụ thể mà là cảm giác thân thuộc của nơi mình đã lớn lên. Khi còn ở gần, ta ít khi nghĩ một giọng nói quen, một buổi chiều bình thường hay sự hiện diện của người thân lại có sức nặng đến vậy. Chỉ đến khi khoảng cách mở ra, những điều bình dị mới trở nên quý giá. Nhưng chính nỗi nhớ ấy lại giúp tôi hiểu sâu hơn vì sao một đất nước cần hòa bình. Người lính không mong chiến tranh kéo dài; điều anh mong là ngày những cuộc chia xa không còn trở thành số phận chung của quá nhiều gia đình. Tôi mang theo Thiệu Hóa trong lòng như một nơi để hướng về, và cũng như một lời nhắc rằng phía sau mỗi người lính đều có một miền quê đang chờ những ngày yên ổn.
C3 D7 E271 – những tháng năm trong hàng ngũ
Quãng quân ngũ của tôi gắn với C3 D7 E271. Không cần thêm vào phiên hiệu ấy những chi tiết chưa được xác nhận, chỉ riêng việc từng sống trong một đơn vị quân đội giữa thời chiến đã đủ trở thành một phần sâu của tuổi trẻ. Quân ngũ dạy tôi trước hết phải biết đặt mình trong một trật tự chung. Một người ở nhà có thể có nếp riêng, nhưng trong tập thể thì không thể mọi thứ đều vận hành theo sở thích của mình. Tôi phải học sự đúng giờ, sự tự giác, học cách không để một phút nóng nảy hay chùng lòng ảnh hưởng đến những người xung quanh. Những bài học ấy không đến bằng những lời thật lớn; chúng hình thành qua từng ngày, cho đến khi sự nghiêm túc dần trở thành một thói quen bên trong.
Năm 1972 là một năm chiến tranh còn rất căng thẳng. Người lính khi ấy sống trong một bối cảnh mà phía trước chưa thể nhìn thấy ngày kết thúc. Tôi không gắn mình với một trận đánh, một địa danh hay một nhiệm vụ cụ thể nào khi những điều đó không có trong thông tin được xác nhận. Nhưng tôi có thể nhớ rất rõ cảm giác của một thời mà mọi người đều hiểu đất nước vẫn còn một chặng đường dài phải đi. Trong hoàn cảnh ấy, điều quan trọng là không để bản thân bị cuốn theo sự bất an. Mỗi người phải biết giữ nề nếp, giữ tinh thần, biết hoàn thành phần của mình trong tập thể. Có những lúc con người trẻ tuổi muốn mọi điều phải nhanh chóng có kết quả, nhưng chiến tranh dạy rằng nhiều hành trình không cho ta quyền biết trước điểm cuối.
Chính những ngày sống trong C3 D7 E271 khiến tôi nhận ra giá trị của sự bền bỉ. Một tập thể không thể đứng vững chỉ nhờ vài khoảnh khắc quyết tâm. Nó cần rất nhiều người cùng giữ sự nghiêm túc trong những ngày tưởng như không có gì đặc biệt. Người này sống có nề nếp để người kia yên tâm, người kia biết nhường nhịn để tập thể bớt căng thẳng; từng điều nhỏ góp lại thành một sức mạnh khó nhìn thấy nhưng rất thật. Tôi dần hiểu rằng không phải cứ làm điều thật nổi bật mới gọi là cống hiến. Có khi phần đáng quý nhất của một người lính là biết sống vững vàng trong vị trí của mình, không làm điều gì khiến tập thể phải gánh thay và không để khó khăn làm mình trở nên cẩu thả với những người bên cạnh.
Đồng đội trong những năm chưa biết ngày trở về
Nếu hỏi điều gì làm quãng quân ngũ trở nên gần gũi nhất, tôi sẽ nghĩ đến đồng đội. Chúng tôi gặp nhau khi mỗi người đều mang theo một quê hương, một gia đình và một phần đời riêng. Có người còn rất trẻ, có người từng trải hơn, nhưng đứng trong cùng hàng ngũ rồi thì những khác biệt ấy dần trở nên nhỏ lại. Người ta hiểu nhau không chỉ bằng câu chuyện được kể, mà bằng cách cùng sống qua ngày tháng. Một người ít nói vẫn có thể được mọi người hiểu là đang nhớ quê; một người có vẻ mạnh mẽ vẫn có những phút lòng mình chùng xuống. Chính việc cùng sống xa gia đình làm chúng tôi dễ nhận ra nỗi niềm của nhau hơn.
Tình đồng đội cũng không nhất thiết phải bắt đầu từ một sự kiện đặc biệt. Nó có thể sinh ra từ cách con người đối xử với nhau trong những ngày bình thường nhất. Khi ai đó mệt, một thái độ cảm thông cũng khiến người ta nhẹ lòng. Khi có bất đồng, biết dừng lại đúng lúc có thể giữ được tình nghĩa lâu dài. Những điều ấy nghe rất nhỏ nhưng càng ở trong tập thể lâu, càng thấy quý. Người lính không thể chỉ dựa vào ý chí riêng để đi qua một quãng dài. Có những lúc chính sự hiện diện của đồng đội khiến mình vững hơn, bởi biết rằng người bên cạnh cũng đang nhớ nhà, cũng có điều phải vượt qua nhưng vẫn tiếp tục giữ mình trong hàng ngũ.
Nhiều năm sau, tôi mới nhận ra đồng đội đã giữ hộ cho mình một phần tuổi hai mươi. Con người ngoài đời ngày một già đi, nhưng trong trí nhớ, những người đã gặp nhau thời trẻ thường vẫn ở nguyên độ tuổi của ngày ấy. Mỗi khi nghĩ về họ, tôi lại nhìn thấy mình của những năm 1972–1974 – còn trẻ, còn nhiều điều chưa hiểu hết nhưng đã biết thế nào là sẻ chia, thế nào là đứng bên người khác trong một chặng khó khăn. Có lẽ đó là lý do tình đồng đội rất khó phai. Nó không chỉ là tình cảm giữa những người từng cùng đơn vị; nó là nơi một phần thanh xuân của mỗi người được giữ lại, dù thời gian đã đi xa đến đâu.
Từ Hiệp định Paris đến ngày xuất ngũ
Năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, đánh dấu một bước chuyển rất quan trọng của cuộc chiến. Nhưng đối với người đang sống trong thời điểm ấy, đó chưa phải ngày đất nước thống nhất. Chiến tranh vẫn còn, non sông vẫn chưa liền một dải. Người hôm nay nhìn lịch sử có thể biết rằng chỉ hơn hai năm sau đất nước sẽ đi đến ngày toàn thắng, còn chúng tôi lúc ấy chưa thể biết chính xác phải chờ bao lâu. Bởi vậy, mỗi thay đổi đều đem đến hy vọng nhưng đồng thời cũng nhắc rằng hành trình vẫn chưa kết thúc. Người lính tiếp tục sống với hiện tại của mình, không thể để mong muốn ngày trở về làm giảm đi sự nghiêm túc trong những tháng năm còn lại.
Đến năm 1974, tôi xuất ngũ khi khoảng hai mươi hai tuổi. Chiến tranh chống Mỹ khi ấy vẫn chưa kết thúc và đất nước chưa thống nhất. Vì vậy, ngày trở về quê đối với tôi mang một cảm giác rất khác với ngày cả dân tộc đi đến hòa bình trọn vẹn sau này. Tôi trở lại Thiệu Hóa trong khi nhiều đồng đội, nhiều lớp thanh niên khác vẫn tiếp tục đứng trong hàng ngũ. Điều đó giúp tôi hiểu rằng lịch sử là một hành trình được nối bằng rất nhiều phần đời. Có người đi trước, có người đi sau; có người phục vụ dài hơn, có người chỉ một quãng ngắn. Không ai có thể tự coi phần mình là toàn bộ câu chuyện. Mỗi người chỉ góp một đoạn, nhưng những đoạn ấy đặt cạnh nhau mới tạo thành sức bền của cả một thế hệ.
Hai năm quân ngũ không làm tôi trở thành một con người hoàn toàn khác, nhưng nó khiến tôi nhìn cuộc sống sâu hơn. Tôi biết quý sự gần gũi của người thân, biết một ngày bình thường ở quê hương không phải điều nên coi là hiển nhiên. Tôi cũng hiểu rằng con người không thể chỉ sống theo cảm xúc nhất thời. Có những việc cần kiên nhẫn, có những lúc phải biết lùi lại một chút để nghĩ đến tập thể, có những khó khăn không thể chỉ giải quyết bằng sự nóng vội. Khi rời quân đội, những điều ấy đi cùng tôi về đời thường như một nền nếp đã được rèn qua những năm chiến tranh. Và rồi khi năm 1975 đến, đất nước thống nhất, niềm vui ấy càng khiến quãng thời gian trước đó trở nên có chiều sâu hơn: mình đã từng sống trong những năm chưa biết ngày đoàn tụ, nên càng hiểu ý nghĩa của ngày non sông liền một dải.
Trước mùa đoàn tụ, một tuổi trẻ đã đi qua
Càng nhiều năm trôi qua, tôi càng thấy quãng đời quân ngũ không cần được tô đậm bằng những điều không thuộc về mình. Điều khiến tôi trân trọng nhất chính là sự bình dị. Tôi từng là một thanh niên Thiệu Hóa bước vào hàng ngũ khi đất nước còn chiến tranh, sống hai năm cùng đồng đội rồi trở về trước ngày toàn thắng. Chừng ấy đã là một phần đời có ý nghĩa. Lịch sử không chỉ có những con người được nhắc đến bằng chiến công lớn; nó còn có rất nhiều người bình thường đã dành một đoạn tuổi trẻ cho hàng ngũ, rồi lặng lẽ trở lại với đời sống thường ngày. Nếu thiếu đi những cuộc đời bình dị ấy, bức tranh của một thế hệ sẽ không bao giờ đầy đủ.
Hòa bình hôm nay cho người trẻ quyền sống tuổi trẻ theo một cách khác. Điều đó không làm thế hệ sau xa người trước, mà chính là kết quả mà người trước từng mong. Không ai đã trải qua những năm đất nước chia cắt lại mong con cháu phải lặp lại hoàn cảnh ấy. Điều đáng quý là thế hệ hôm nay có thể đi xa, lựa chọn nghề nghiệp, xây dựng tình yêu và tương lai mà không phải đặt chiến tranh vào giữa mọi dự định. Hiểu được giá trị ấy, mỗi người sẽ tự biết mình nên đối xử thế nào với những ngày đang sống. Không cần những lời quá lớn; chỉ cần đừng xem sự yên ổn là điều vô nghĩa, đừng xem công sức của người khác là điều hiển nhiên.
Lịch sử cũng chỉ thật sự sống khi được nhìn bằng tình người. Một mốc năm sẽ trở nên gần hơn khi ta hiểu phía sau nó từng có những chàng trai tuổi đôi mươi nhớ nhà, từng có những gia đình mong người thân trở về, từng có những con người sống qua từng ngày mà không biết đoạn cuối của cuộc chiến ở đâu. Khi nhìn quá khứ như thế, lòng biết ơn sẽ không còn là sự ngưỡng vọng xa xôi. Nó trở thành sự thấu hiểu: người trước cũng từng giống người hôm nay ở rất nhiều điều, chỉ khác rằng hoàn cảnh đã yêu cầu họ phải dành tuổi trẻ cho những lựa chọn khác.
Sau một trận mưa, nước trên mặt sân dần rút đi nhưng có những vệt ẩm còn lưu lại rất lâu. Năm tháng cũ cũng vậy. Những biến động đã qua, những ngày cụ thể có thể phai dần, nhưng điều được chúng để lại vẫn thấm vào con người: cách biết quý sự bình yên, cách trân trọng người đã từng đi cùng và cảm giác rằng tuổi trẻ của mình đã từng gắn với một thời đất nước chưa trọn vẹn đoàn tụ.
Người sau không cần sống lại những ngày ấy. Điều cần hơn là giữ một sự hiểu biết đủ sâu để không coi quá khứ như một câu chuyện xa lạ. Khi hiểu rằng trước ngày đoàn tụ đã có biết bao quãng đời âm thầm đi qua, người hôm nay sẽ thấy bình yên không chỉ là một trạng thái của đất nước mà còn là món quà của lịch sử gửi đến từng gia đình, từng con người.
Và khi câu chuyện của những năm cũ được nhắc lại, tôi mong người ta nhớ đến những người lính bình dị bằng một lòng tri ân nhẹ mà sâu. Họ từng trẻ, từng nhớ quê, từng mang theo những dự định riêng, rồi trong một đoạn đời đã đứng vào hàng ngũ khi đất nước chưa yên. Không cần thêm một hào quang nào khác. Chỉ cần những năm tháng ấy còn giúp người sau hiểu hơn giá trị của ngày đoàn tụ, biết sống tử tế hơn với quê hương và trân trọng hơn hòa bình đang có, thì phần tuổi trẻ đã đi qua trước mùa thống nhất vẫn còn nguyên ý nghĩa.



