Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Văn Đồi - Trung tướng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam

Vương Thừa Vũ (tên thật là: Nguyễn Văn Đồi, 21 tháng 12 năm 1910 – 10 tháng 9 năm 1980) là một Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.[1][2] Ông là chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến nổ ra và cũng là Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ đầu tiên của Đại đoàn 308, đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (nay là Sư đoàn 308, Quân đoàn 12).

Vĩnh Long08/05/2026Nguyễn Ngọc Thạch (phường Sơn Đông)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chức vụ (tất cả)

- Trung tướng (1974), Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1964-1980)

- Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, rồi làm Tư lệnh Quân khu 3 (1955-1963)

- Thiếu tướng, Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội (9/1954 - 11/1954)

- Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 (1949-1954)

- Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên (1947-1948)

- Khu trưởng Khu 11 - Khu đặc biệt Hà Nội (1946-1947)

Năm vào Đảng

1943

Khen thưởng/Giải thưởng

- Huân chương Hồ Chí Minh

- Huân chương Quân công

- Huân chương Chiến công

Cuộc đời, sự nghiệp

- Thuở nhỏ, Nguyễn Văn Đồi theo cha sang Côn Minh (Trung Quốc) sinh sống. Lớn lên, ông được người quen giới thiệu vào học việc tại Nhà máy xe lửa Vân Nam. Nhờ chăm chỉ và sáng dạ, sau 3 năm, ông được nhận vào làm thợ phụ.

- 1937: Ông dự thi và trúng tuyển vào học Trường Quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu (Trung Quốc).

- 1940: Ông liên lạc với các tổ chức cách mạng và các nhà yêu nước Việt Nam để tìm đường về nước hoạt động.

- 1941: Khi đang trên đường trở về nước, Nguyễn Văn Đồi bị thực dân Pháp bắt, giam tại căng Bá Vân (Thái Nguyên), sau đó đưa về Hỏa Lò (Hà Nội). Một thời gian sau, chúng lại đưa ông lên giam tại căng Nghĩa Lộ (Yên Bái). Với tinh thần của một chiến sĩ cộng sản, không khuất phục trước kẻ thù, trong tù, Nguyễn Văn Đồi cùng những đồng chí của mình vẫn tích cực hoạt động, vừa tiến hành công tác binh vận để xây dựng lực lượng, vừa bí mật tổ chức huấn luyện quân sự.

- 1943: Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

- 3/7/1945: Nhật đảo chính Pháp chiếm Đông Dương, ông cùng một số đồng chí lên kế hoạch vượt ngục. Kế hoạch bị lộ, nhưng với sự nhanh nhẹn và mưu trí, ông vẫn thoát khỏi nhà tù. Ông cùng một số tù nhân chính trị tản vào rừng, nhưng do trời tối nên lạc đường và bị một tốp người dân tộc thiểu số bắt đưa về bản. Vốn nhanh trí, lại biết nói tiếng dân tộc, ông tự xưng mình mang họ Vương (vì ông thấy họ gọi nhau như vậy). Thấy vậy, những người dân trong bản nhanh chóng cởi trói, tiếp đón ông như những người bạn và nuôi giấu ông một thời gian. Sau này này, ông đổi tên là Vương Thừa Vũ để hoạt động cách mạng công khai.

- 1946: Chỉ huy trưởng bộ đội Hà Nội; Khu trưởng Khu 11 (Khu đặc biệt Hà Nội); Chỉ huy quân sự Khu 2 bảo vệ Hà Nội.

- 1947: Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên.

- 1948: Được phong quân hàm Đại tá trong đợt phong chính thức đầu tiên của Việt Nam.

- 4/1949: Được giao nhiệm vụ tổ chức Đại đoàn 308 ở Việt Bắc.

- 1949-1954: Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 (Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam), kiêm Chính ủy Đại đoàn (1941 -1951); Ông cũng tham gia chỉ huy chiến đấu nhiều chiến dịch, trong đó có Chiến dịch Điên Biên Phủ (1954).

- 28/9/1954: Được thăng quân hàm Thiếu tướng và được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội.

- 10/10/1954: Ông cùng bác sĩ Trần Duy Hưng, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội cùng Đại đoàn 308 về tiếp quản Thủ đô giữ rừng cờ hoa của người dân Hà Nội.

- 10/11/1954: Thiếu tướng Vương Thừa Vũ thay mặt Ủy ban Quân chính Hà Nội ký thông cáo của Hội đồng chính phủ quyết định thành lập Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội do bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên làm Phó Chủ tịch.

- 1955-1963: Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, rồi làm Tư lệnh Quân khu 3.

- 1964-1980: Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Giám đốc Học viện Quân chính (1964), kiêm Tư lệnh Quân khu 4 (1971).

- 1974: Được phong hàm Trung tướng.

- 1980: Trung tướng Vương Thừa Vũ mất tại Hà Nội.

Một số tác phẩm

- Hồi ký "Trưởng thành trong chiến đấu" nxb Quân đội nhân dân (1979)

- Sách "Những chặng đường chiến đấu", nxb Quân đội nhân dân (2005)

Thân thế

Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm 1910 tại thôn Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội). Thuở nhỏ, ông theo cha sang Vân Nam (Trung Quốc) sinh sống. Lớn lên, ông làm thợ hỏa xa tại Vân Nam.

Sau khi Nhật xâm chiếm Mãn Châu, ông đăng lính quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng, sau đó được cử vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) năm 1937. Tại đây, ông đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên và dần có cảm tình với những người Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Ái Quốc, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn...

Năm 1940, do cuộc thanh trừng của Trung Hoa Quốc dân đảng đối với những người Cộng sản, ông trốn về nước tổ chức hoạt động cách mạng. Tuy nhiên, năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt giam và năm 1942 bị đày tại trại giam Bá Vân (Thái Nguyên). Tại đây, ông được những người tù Cộng sản vận động và tham gia công tác binh vận, phụ trách huấn luyện quân sự trong tù. Ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương. Khi đó, ông đang bị giam tại Nghĩa Lộ (Yên Bái), cùng các bạn tù phá ngục, sau đó dự định tổ chức bạo động giành chính quyền ở Nghĩa Lộ nhưng không thành. Vì thế, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng, huấn luyện quân sự ở Chiến khu II.

Sự nghiệpTừ Tư lệnh Mặt trận Hà Nội đến vị Đại đoàn trưởng đầu tiên

Khi Việt Minh giành chính quyền, ông được giao nhiệm vụ tiếp quản, phụ trách tổ chức và chỉ huy lực lượng Bảo an binh Hà Nội. Khi quân Pháp gây hấn tại Hà Nội, ông được cử giữ chức Khu trưởng Khu XI Hà Nội, sau đó đổi thành chỉ huy quân sự Khu II bảo vệ Hà Nội, Liên khu phó Liên Khu 1. Dự kiến quân Pháp sẽ nổ súng, Bộ Tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam đã chỉ định ông làm Tư lệnh Mặt trận Hà Nội, chỉ huy việc phòng thủ và tấn công quân Pháp tại Hà Nội, nhằm mục đích kéo dài có lợi, sau đó rút lui bảo toàn lực lượng. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, khi đã cầm chân được quân Pháp tại nội đô Hà Nội trong 2 tháng.

Sau khi rút khỏi Hà Nội, ông được điều động về làm Khu bộ phó Khu IV, dưới quyền Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, sau đó là Nguyễn Sơn. Cuối năm 1947, ông được giao nhiệm vụ làm Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá trong đợt phong hàm chính thức đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 28 tháng 8 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam thành lập Đại đoàn chủ lực đầu tiên mang phiên hiệu Đại đoàn 308. Ông được cử làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đại đoàn (đến năm 1951, Song Hào thay ông làm Chính ủy). Từ đó, ông cùng Đại đoàn tham gia nhiều chiến dịch lớn như:

  1. Sông Lô (tháng 5 năm 1949)

  • Đường số 4 (tháng 10 năm 1949)

  • Biên giới (tháng 10 năm 1950)

  • Trung du (tháng 12 năm 1950)

  • Đông Bắc (tháng 2 năm 1951)

  • Hà Nam Ninh (tháng 5 năm 1951)

  • Hòa Bình (tháng 10 năm 1951)

  • Tây Bắc (tháng 10 năm 1952)

  • Thượng Lào (tháng 1 năm 1953),

  • Điện Biên Phủ (tháng 3 năm 1954)

  • Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông tiếp tục chỉ huy Đại đoàn 308 tấn công tiêu diệt các đơn vị Pháp tại Bắc Giang, Phả Lại (tháng 7 năm 1954).

    Ngày 28 tháng 9 năm 1954, ông được thăng hàm thiếu tướng và được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Hà Nội (tháng 10 năm 1954), cùng Đại đoàn 308 về tiếp quản Hà Nội.

    Vương Thừa Vũ (tên thật là: Nguyễn Văn Đồi, 21 tháng 12 năm 1910 – 10 tháng 9 năm 1980) là một Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.[1][2] Ông là chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến nổ ra và cũng là Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ đầu tiên của Đại đoàn 308, đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (nay là Sư đoàn 308, Quân đoàn 12).

    Thân thế

    Ông sinh ngày 21 tháng 12 năm 1910 tại thôn Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội). Thuở nhỏ, ông theo cha sang Vân Nam (Trung Quốc) sinh sống. Lớn lên, ông làm thợ hỏa xa tại Vân Nam.

    Sau khi Nhật xâm chiếm Mãn Châu, ông đăng lính quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng, sau đó được cử vào học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) năm 1937. Tại đây, ông đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên và dần có cảm tình với những người Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Ái Quốc, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn...

    Năm 1940, do cuộc thanh trừng của Trung Hoa Quốc dân đảng đối với những người Cộng sản, ông trốn về nước tổ chức hoạt động cách mạng. Tuy nhiên, năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt giam và năm 1942 bị đày tại trại giam Bá Vân (Thái Nguyên). Tại đây, ông được những người tù Cộng sản vận động và tham gia công tác binh vận, phụ trách huấn luyện quân sự trong tù. Ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943.

    Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương. Khi đó, ông đang bị giam tại Nghĩa Lộ (Yên Bái), cùng các bạn tù phá ngục, sau đó dự định tổ chức bạo động giành chính quyền ở Nghĩa Lộ nhưng không thành. Vì thế, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng, huấn luyện quân sự ở Chiến khu II.

    Sự nghiệp

    Từ Tư lệnh Mặt trận Hà Nội đến vị Đại đoàn trưởng đầu tiên

    Khi Việt Minh giành chính quyền, ông được giao nhiệm vụ tiếp quản, phụ trách tổ chức và chỉ huy lực lượng Bảo an binh Hà Nội. Khi quân Pháp gây hấn tại Hà Nội, ông được cử giữ chức Khu trưởng Khu XI Hà Nội, sau đó đổi thành chỉ huy quân sự Khu II bảo vệ Hà Nội, Liên khu phó Liên Khu 1. Dự kiến quân Pháp sẽ nổ súng, Bộ Tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam đã chỉ định ông làm Tư lệnh Mặt trận Hà Nội, chỉ huy việc phòng thủ và tấn công quân Pháp tại Hà Nội, nhằm mục đích kéo dài có lợi, sau đó rút lui bảo toàn lực lượng. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, khi đã cầm chân được quân Pháp tại nội đô Hà Nội trong 2 tháng.

    Sau khi rút khỏi Hà Nội, ông được điều động về làm Khu bộ phó Khu IV, dưới quyền Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, sau đó là Nguyễn Sơn. Cuối năm 1947, ông được giao nhiệm vụ làm Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá trong đợt phong hàm chính thức đầu tiên của Việt Nam.

    Ngày 28 tháng 8 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam thành lập Đại đoàn chủ lực đầu tiên mang phiên hiệu Đại đoàn 308. Ông được cử làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đại đoàn (đến năm 1951, Song Hào thay ông làm Chính ủy). Từ đó, ông cùng Đại đoàn tham gia nhiều chiến dịch lớn như:

    Sông Lô (tháng 5 năm 1949)

    Đường số 4 (tháng 10 năm 1949)

    Biên giới (tháng 10 năm 1950)

    Trung du (tháng 12 năm 1950)

    Đông Bắc (tháng 2 năm 1951)

    Hà Nam Ninh (tháng 5 năm 1951)

    Hòa Bình (tháng 10 năm 1951)

    Tây Bắc (tháng 10 năm 1952)

    Thượng Lào (tháng 1 năm 1953),

    Điện Biên Phủ (tháng 3 năm 1954)

    Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông tiếp tục chỉ huy Đại đoàn 308 tấn công tiêu diệt các đơn vị Pháp tại Bắc Giang, Phả Lại (tháng 7 năm 1954).

    Ngày 28 tháng 9 năm 1954, ông được thăng hàm thiếu tướng và được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Hà Nội (tháng 10 năm 1954), cùng Đại đoàn 308 về tiếp quản Hà Nội.

    Tiếp tục con đường binh nghiệp

    Sau khi tiếp quản miền Bắc, ông tham gia quá trình tổ chức hiện đại hóa quân đội. Đại đoàn 308 được tổ chức lại thành Sư đoàn. Từ năm 1956 đến 1963, ông được cử làm Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn. Năm 1964, ông được cử làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và giữ chức vụ này đến khi mất vào năm 1980. Ngoài ra ông còn kiêm chức giám đốc Học viện Quân sự (1964), Tư lệnh Quân khu 4, Quân đội nhân dân Việt Nam (1971).

    Vương Thừa Vũ được phong quân hàm Đại tá năm 1948, Thiếu tướng năm 1954 và Trung tướng năm 1974; được nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất,... Ông cũng là tác giả hồi ký "Trưởng thành trong chiến đấu" – Nhà xuất bản Hà Nội, 2006 và một số tác phẩm quân sự.

    Trung tướng Vương Thừa Vũ qua đời vào ngày 10 tháng 9 năm 1980 và được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Ngày nay, tại Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Ninh đều có những đường phố mang tên ông.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn