Nguyễn Văn Đông

Có những người lính khi rời chiến trường đã mang theo trên mình những vết thương không bao giờ lành. Nhưng vượt lên những mất mát, đau thương, họ vẫn tiếp tục sống, cống hiến và giữ gìn phẩm chất của người lính giữa đời thường. Với thương binh Nguyễn Văn Đông, quê ở xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An, tinh thần ấy đã trở thành lẽ sống: “Dù thời bình hay thời chiến, tinh thần người lính cũng phải giữ cho trọn.”
Sinh năm 1956, ông Nguyễn Văn Đông lớn lên tại xã Kim Liên – quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Gia đình có 6 anh chị em, ông là con trai cả. Cha ông – ông Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1924 – từng tham gia kháng chiến chống Pháp, bị thương trong chiến đấu và tiếp tục làm cán bộ quân sự địa phương trong những năm chống Mỹ.
Năm 1965, khi ông Đông mới 9 tuổi, cha ông hy sinh trong một trận bom của máy bay Mỹ tại khu vực Nương Gai, phía Bắc xã Kim Liên. Sự mất mát ấy trở thành ký ức sâu sắc trong tuổi thơ của người con trai cả. Một mình mẹ ông phải gồng gánh nuôi 6 người con giữa những năm tháng chiến tranh đầy gian khó. Chính hình ảnh người mẹ tảo tần và ký ức về người cha đã ngã xuống vì Tổ quốc đã hun đúc trong ông ý chí phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của cha, với truyền thống gia đình và quê hương.
Sau ngày đất nước thống nhất, tưởng như chiến tranh đã lùi xa, nhưng tình hình biên giới Tây Nam diễn biến phức tạp. Đầu năm 1976, khi mới tròn 20 tuổi, ông Nguyễn Văn Đông đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Biết con trai cả có thể phải đối mặt với hiểm nguy, người mẹ từng mất chồng trong chiến tranh không muốn mất thêm người con. Nhưng với người thanh niên Nguyễn Văn Đông khi ấy, tiếng gọi của Tổ quốc đã thôi thúc ông lên đường.
Đến cuối năm 1978, ông chính thức tham gia chiến đấu tại chiến trường biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ trinh sát tại khu vực Đắk Min – Đắk Lắk, giáp biên giới Campuchia. Công việc của người lính trinh sát là đi trước đội hình, luồn sâu vào địa bàn địch, nắm tình hình, xác định vị trí bố trí hỏa lực và trở về báo cáo đơn vị.
Những chuyến trinh sát giữa rừng sâu là những cuộc hành quân đầy hiểm nguy. Có những thời điểm ông và đồng đội phải nhiều ngày chỉ sống bằng lương khô, nước suối; có lần bị địch phát hiện, phải tản vào rừng và ông bị lạc giữa núi rừng hoang vu. Không nước, không thức ăn, ông phải sống bằng lá rừng và những giọt nước đọng trên lá cây. Đến ngày thứ tư, ông mới tìm được đường mòn của quân đội để trở về đơn vị. Nhưng ký ức đau đớn nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông là trận đánh tại cụm cứ điểm 920 gần biên giới. Khi đội hình trinh sát đang tiếp cận mục tiêu trong đêm, pháo binh đối phương bất ngờ trút xuống. Một loạt đạn pháo nổ ngay giữa đội hình, khiến nhiều đồng đội của ông hy sinh.
Ông Nguyễn Văn Đông bị sức ép của vụ nổ hất văng, mất một phần chân trái, chân phải bị vỡ xương mắt cá. Máu chảy nhiều, ông rơi vào trạng thái hôn mê giữa chiến trường. Sau đó, ông được đưa về lán cứu thương dã chiến và phải điều trị gần một năm. Trong cơ thể ông vẫn còn hơn 30 mảnh đạn không thể lấy ra hết. Đối với ông, việc sống sót trở về đã là một điều kỳ diệu. Nhưng phía sau sự sống ấy là nỗi day dứt về những người đồng đội đã không thể trở về. Có người vẫn nằm lại đâu đó giữa những cánh rừng, không tên, không bia mộ.

Sau chiến tranh, hành trình trở về cuộc sống đời thường của người thương binh cũng không hề dễ dàng. Ông được xác nhận là thương binh hạng 3/4, tỷ lệ thương tật 51%, đồng thời là bệnh binh hạng 1/3, tỷ lệ mất sức 81%. Năm 1990, ông tình nguyện trở về quê hương ổn định cuộc sống.
Tại quê nhà, ông và người vợ – bà Nguyễn Thị Thắng, một y sĩ – bắt đầu cuộc sống mới từ hai bàn tay trắng. Không vốn liếng, bản thân mang thương tật nặng, nhưng ông luôn giữ niềm tin: “Còn sống là còn làm được.” Ông sửa chữa, buôn bán phụ tùng xe đạp; vợ vừa làm công tác y tế vừa làm ruộng. Hai vợ chồng chắt chiu từng đồng để nuôi các con ăn học. Có những thời điểm khó khăn đến mức không đủ tiền đóng học phí, ông phải vay mượn hàng xóm. Nhưng bằng nghị lực của người lính, gia đình ông từng bước vượt qua.
Ba người con của ông đều học đại học và có việc làm ổn định. Nhìn lại chặng đường đã qua, ông không cho rằng mình giàu có, nhưng tự hào vì có một mái ấm, con cháu trưởng thành, được hàng xóm láng giềng yêu quý. Đó chính là thành quả lớn nhất sau những năm tháng chiến tranh và gian khó.
Điều đáng quý hơn, khi trở về đời thường, ông Nguyễn Văn Đông không lựa chọn cuộc sống thờ ơ, vô trách nhiệm. Ông tham gia Hội Cựu chiến binh xã, cùng đồng đội tiếp tục đóng góp xây dựng quê hương. Dù thương tật khiến việc đi lại khó khăn, ông vẫn vận động con cháu chấp hành pháp luật, giữ gìn nếp sống và tích cực tham gia các phong trào tại địa phương trong khả năng của mình.


