NGUYỄN VĂN HIỀN: “LÁ CHẮN THÉP” TRÊN ĐỈNH MA LÙ THÀNG
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Hiền sinh ngày 10/12/1950 tại vùng đất Văn Chấn, Yên Bái, nhưng dường như định mệnh đã gắn cuộc đời ông với những đỉnh núi mờ sương của biên cương Lai Châu. Trong căn phòng khách treo đầy những tấm huân chương đã nhuốm màu thời gian, người cựu binh già với mái tóc bạc phơ khẽ nhấp chén trà, ánh mắt ông bỗng rực sáng khi những ký ức về thời "hoa lửa" năm 1979 dội về, chân thực và sống động như mới vừa hôm qua.
Có những vùng đất mà mỗi tấc đất, mỗi ngọn cỏ đều mang trong mình một phần của lịch sử, và có những con người mà cuộc đời họ đã trở thành bản trường ca bất tử của dân tộc. Lai Châu những ngày tháng sương muối giăng mờ các đỉnh núi, sắc hoa ban trắng xóa trên những sườn đồi cũng là lúc niềm ký ức về mùa xuân rực lửa năm 1979 ùa về trong lòng những người cựu binh già.
Giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, ít ai biết rằng trong lòng thành phố trẻ Lai Châu, có một "lá chắn thép" lừng lẫy năm xưa vẫn đang ngày đêm thầm lặng giữ lửa truyền thống. Đó là người anh hùng đã dùng xương máu để tạc nên dáng đứng cho đỉnh Ma Lù Thàng, người đã biến lòng yêu nước thành sức mạnh vô song trước bão đạn quân thù. Chúng ta hãy lắng nghe nhịp đập của lịch sử qua lời kể của người lính trinh sát năm nào – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Hiền.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Hiền sinh ngày 10/12/1950 tại vùng đất Văn Chấn, Yên Bái, nhưng dường như định mệnh đã gắn cuộc đời ông với những đỉnh núi mờ sương của biên cương Lai Châu. Trong căn phòng khách treo đầy những tấm huân chương đã nhuốm màu thời gian, người cựu binh già với mái tóc bạc phơ khẽ nhấp chén trà, ánh mắt ông bỗng rực sáng khi những ký ức về thời "hoa lửa" năm 1979 dội về, chân thực và sống động như mới vừa hôm qua.
Ngược dòng thời gian về rạng sáng ngày 17/2/1979, khi ấy Nguyễn Văn Hiền là Trung đội trưởng thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 193. Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ chốt giữ tại khu vực Ma Lù Thàng – một vị trí tiền tiêu, cửa ngõ xung yếu bậc nhất của tỉnh. “Lúc đó khoảng 5 giờ sáng, màn sương mù còn đặc quánh chưa kịp tan thì đại bác từ bên kia biên giới dội xuống như sấm sét,” ông Hiền nhớ lại, giọng trầm xuống đầy xúc động. Cả bầu trời biên giới Ma Lù Thàng phút chốc rực đỏ trong khói lửa, đất đá dưới chân rung chuyển theo từng nhịp nổ chát chúa. Đó chính là lúc bắt đầu của cuộc đối đầu không cân sức, nơi ý chí của con người phải trực diện thử thách trước sức mạnh tàn khốc của đạn bom.
Ngay sau loạt pháo kích, quân địch bắt đầu tràn sang theo chiến thuật “biển người”, bóng áo đối phương đông nghẹt lầm lũi tiến lên dưới sự yểm trợ của hỏa lực mạnh. Trong khi đó, trung đội của ông lực lượng mỏng, trang bị chỉ là súng bộ binh và lựu đạn. Giữa làn khói súng cay xè mắt, Trung đội trưởng Nguyễn Văn Hiền đã thể hiện bản lĩnh của một người chỉ huy thép. Ông yêu cầu anh em phải thật bình tĩnh, chờ địch vào thật gần, chỉ còn cách 20-30 mét mới đồng loạt nổ súng để tiết kiệm đạn và đạt hiệu suất tiêu diệt cao nhất. Có những thời điểm ác liệt nhất, khi một mũi tấn công của địch áp sát hầm chỉ huy, ông đã không ngần ngại ôm khẩu trung liên nhô người khỏi công sự, bắn quét vào đội hình địch để thu hút hỏa lực về phía mình, tạo khoảng trống cho đồng đội phản công. Những mét khối đất đá bị xới tung, mảnh đạn găm vào thành hầm, nhưng người chỉ huy
ấy vẫn đứng vững như một cột mốc sống giữa đại ngàn Tây Bắc.
Nhưng trong ký ức của ông, chiến tranh không chỉ có đạn bom, mà còn rực rỡ bởi tình đồng đội – thứ "hoa" nở giữa lò lửa chiến tranh. Ông bồi hồi kể về những mẩu lương khô chia đôi bám đầy bụi đất, những ngụm nước cuối cùng trong bình tông nhường cho những chiến sĩ bị thương. “Có chiến sĩ trẻ lần đầu ra trận, tay run không lắp nổi băng đạn, tôi bò sang vỗ vai bảo: ‘Cứ bình tĩnh, có anh ở đây rồi’. Chỉ một cái vỗ vai lúc ấy thôi mà như tiếp thêm sức mạnh phi thường,” ông Hiền xúc động nói. Chính tinh thần yêu thương, đùm bọc giữa lằn ranh sinh tử đã biến những người lính bình thường thành những lá chắn thép không thể xuyên thủng, giữ vững trận địa Ma Lù Thàng suốt những ngày đêm cam go nhất.
Với những chiến công đặc biệt xuất sắc đó, ngày 20/12/1979, Nguyễn Văn Hiền vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới vừa tròn 29 tuổi. Sau ngày hòa bình, ông chọn ở lại gắn bó với mảnh đất Lai Châu – quê hương thứ hai, nơi ông đã từng đổ máu để bảo vệ. Hiện nay, khi đã nghỉ công tác và trở về đời thường, ông vẫn là một đảng viên mẫu mực, một người cựu chiến binh luôn tâm huyết với các hoạt động của địa phương. Ông thường xuyên tham gia các buổi kể chuyện truyền thống, dùng lời kể chân thực của mình để truyền lửa yêu nước cho thế hệ trẻ.
Người anh hùng của đỉnh Ma Lù Thàng dặn dò: “Xương máu của đồng đội tôi đã thấm vào từng thớ đất biên cương này. Tôi kể lại câu chuyện này không phải để khoe chiến tích, mà để các cháu hiểu rằng cái giá của hòa bình là rất lớn. Hãy sống sao cho xứng đáng với những người đã nằm lại ở tuổi đôi mươi.” Câu chuyện của Anh hùng Nguyễn Văn Hiền chính là một phần máu thịt của lịch sử Lai Châu, một minh chứng bất diệt cho tinh thần hoa lửa của một thế hệ sẵn sàng hy sinh ntất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc.



