Nguyễn Văn Hòa – Người lính Lào Cai đánh chiếm “cánh cửa thép” Đồng Dù
Nguyễn Văn Hòa là một người lính quê Lào Cai, nhập ngũ ngày 22/12/1972, sau thời gian huấn luyện đã vào chiến trường miền Nam, chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320A. Ông tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, truy kích trên đường 7, tiến về Phú Yên, Đồng Nai rồi cùng đơn vị tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp đánh căn cứ Đồng Dù ngày 29/4/1975. Sau chiến tranh, ông tiếp tục chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND tháng 12/1979

Thời kỳ lịch sử:
1. Ngày người thanh niên Lào Cai khoác áo lính
Ngày 22/12/1972.
Đúng ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, chàng thanh niên Nguyễn Văn Hòa rời gia đình lên đường nhập ngũ.
Ông khi ấy mới ở tuổi đôi mươi.
Đây là lần đầu tiên ông rời quê hương.
Nhưng theo lời kể của chính ông, trong lòng không có sự lạ lẫm hay sợ hãi. Điều thôi thúc ông là khát vọng được góp sức vào cuộc chiến giành độc lập, thống nhất đất nước.
Ông đâu biết rằng chỉ vài tháng sau, con đường của mình sẽ dẫn thẳng từ vùng biên cương phía Bắc vào một trong những chiến trường ác liệt nhất của cuộc chiến.
2. Chỉ vài tháng huấn luyện rồi vào Nam
Thời gian huấn luyện không dài.
Sau đó Nguyễn Văn Hòa được biên chế vào Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320A và hành quân vào miền Nam.
Một người lính trẻ vừa rời quê.
Một khẩu súng trên vai.
Một hành trình hàng nghìn cây số.
Phía trước là chiến trường mà ông chưa từng biết.
Và chiến tranh không cho ông nhiều thời gian để làm quen.
3. Chiến trường Tây Nguyên
Đơn vị của Nguyễn Văn Hòa tham gia Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.
Ông chiến đấu tại nhiều địa bàn, trong đó có Chư Sê, rồi truy kích lực lượng đối phương trên hướng Cheo Reo – Phú Bổn, chiến đấu trên tuyến đường 7, tham gia giải phóng Phú Yên và tiến về Đồng Nai.
Đó là một cuộc hành quân gần như liên tục.
Rừng núi.
Suối sâu.
Đèo dốc.
Bom đạn.
Bệnh tật.
Và những đêm ngủ dưới gốc cây.
Nguyễn Văn Hòa sau này kể rằng trong ba năm chiến đấu, ông trực tiếp tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ.
4. Người lính không có thời gian để mệt
Chiến tranh mùa Xuân 1975 diễn ra với tốc độ chưa từng có.
Các đơn vị liên tục cơ động.
Một chiến thắng vừa kết thúc, một nhiệm vụ mới lại bắt đầu.
Người lính nhiều khi chỉ kịp ăn vài miếng lương khô rồi tiếp tục hành quân.
Nguyễn Văn Hòa nhớ lại những ngày ấy:
Đêm ngủ dưới gốc cây.
Ngày vượt suối, băng đèo.
Tiếng bom đạn trở thành âm thanh quen thuộc.
Nhưng ông nói rằng mình chưa bao giờ nghĩ đến việc quay đầu.
5. Từ Tây Nguyên hướng về Sài Gòn
Sau những thắng lợi liên tiếp ở Tây Nguyên và các chiến trường miền Trung, đội hình của Nguyễn Văn Hòa tiếp tục tiến về phía Nam.
Cuối tháng 4/1975, đơn vị nhận lệnh thần tốc hành quân hướng về Sài Gòn.
Mục tiêu trước mắt:
Đồng Dù.
Một cái tên mà với người lính lúc ấy đồng nghĩa với một trận đánh cực kỳ khó khăn.
6. “Cánh cửa thép” phía Tây Bắc Sài Gòn
Đồng Dù nằm ở khu vực Củ Chi, án ngữ hướng Tây Bắc Sài Gòn.
Đây là một căn cứ quân sự quan trọng, từng do lực lượng Mỹ xây dựng và sau đó được quân đội Việt Nam Cộng hòa sử dụng.
Theo lời kể của Nguyễn Văn Hòa, căn cứ được bảo vệ bằng nhiều lớp kẽm gai, lô cốt và bãi mìn, dưới sự chỉ huy của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 25.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Muốn tiến sâu về Sài Gòn từ hướng Tây Bắc, lực lượng tiến công phải phá được cứ điểm này.
Vì thế Đồng Dù được ví như:
“cánh cửa thép” của Sài Gòn.
7. Rạng sáng 29/4
Rạng sáng 29/4/1975.
Pháo binh bắt đầu đồng loạt nã vào Đồng Dù.
Những tiếng nổ kéo dài.
Sau đó bộ binh tiến lên.
Mìn định hướng được sử dụng để phá các tuyến phòng thủ.
Công binh và bộ binh liên tục đánh bộc phá mở đường qua những lớp hàng rào.
Đối với những người lính trực tiếp xung phong, mỗi mét tiến lên đều có thể là một mét phải trả bằng máu.
Nguyễn Văn Hòa khi nhớ lại trận đánh nhiều năm sau vẫn nói về nó bằng một cụm từ:
“thử thách sinh tử”.
8. Hàng rào đầu tiên
Phía trước là hàng rào.
Sau hàng rào là bãi mìn.
Sau bãi mìn là lô cốt.
Và phía sau nữa là hệ thống phòng thủ của một căn cứ quân sự lớn.
Người lính không thể đứng lâu.
Bởi đứng lại cũng đồng nghĩa với trở thành mục tiêu.
Chỉ còn một cách:
tiến lên.
Những mũi bộ binh phối hợp với xe tăng thọc sâu vào căn cứ.
9. Tiếng máy bay trên đầu
Trong ký ức Nguyễn Văn Hòa, Đồng Dù không chỉ có tiếng súng dưới mặt đất.
Có cả máy bay địch gầm rú trên đầu.
Pháo sáng.
Hỏa lực.
Mìn chống tăng.
Những bẫy thép.
Và những đồng đội lần lượt ngã xuống.
Ông kể lại rằng có người chỉ còn kịp gọi:
“Cha mẹ ơi…”
rồi lịm đi.
Đó là những âm thanh mà người sống sót mang theo suốt phần đời còn lại.
10. Người lính chỉ có vài mảnh lương khô
Giữa trận đánh và cuộc hành quân thần tốc, chuyện ăn uống gần như không còn được tính bằng những bữa cơm bình thường.
Nguyễn Văn Hòa kể rằng ông chỉ có vài mảnh lương khô.
Nhưng ông không cảm thấy đói.
Không cảm thấy mệt.
Phía trước là nhiệm vụ.
Phía sau là đồng đội.
Và xa hơn nữa là Sài Gòn.
11. Mỗi mét đất là một mạng người
Đồng Dù không phải một trận đánh có thể thắng bằng một đợt xung phong duy nhất.
Các đơn vị phải từng bước phá hệ thống phòng thủ.
Từng khu vực.
Từng trận địa.
Từng mục tiêu.
Lực lượng thọc sâu phối hợp giữa xe tăng và bộ binh lần lượt đánh chiếm khu hậu cứ Trung đoàn 46.
Những chốt kháng cự bị phá.
Đội hình tiếp tục tiến.
12. Sở chỉ huy Sư đoàn 25
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất là Sở chỉ huy Sư đoàn 25.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/4, lực lượng ta đánh chiếm và làm chủ sở chỉ huy.
Sư đoàn trưởng Lý Tòng Bá cùng Ban Tham mưu đã rút khỏi đây.
Nhưng trận đánh chưa dừng lại.
Các mũi tiếp tục phát triển.
13. Không dừng lại ở sở chỉ huy
Sau khi đánh chiếm sở chỉ huy, các hướng tiến công tiếp tục đánh vào:
trận địa pháo;
Sở chỉ huy Trung đoàn 50;
khu thiết giáp;
sân bay.
Đồng thời đánh tan các lực lượng phản kích của đối phương.
Nguyễn Văn Hòa cùng đồng đội vẫn ở trong đội hình chiến đấu.
Không có thời gian để nghỉ.
14. 11 giờ ngày 29/4
Đến khoảng 11 giờ ngày 29/4/1975, căn cứ Đồng Dù hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của lực lượng ta theo lời kể được Báo Lào Cai ghi lại.
Một cứ điểm lớn đã bị phá vỡ.
“Cánh cửa thép” ở phía Tây Bắc Sài Gòn bị mở.
Nhưng phía trước vẫn còn một thành phố.
Sài Gòn.
15. Đồng đội đã nằm lại
Chiến thắng không đến mà không có mất mát.
Nguyễn Văn Hòa nói rằng điều khiến ông đau đáu nhất sau này không phải là mình đã sống sót.
Mà là những người đã nằm lại.
Những người không bao giờ được nhìn thấy buổi trưa 30/4.
Không bao giờ biết cảm giác đất nước thống nhất.
Không bao giờ được trở về quê.
16. “Sau lưng là Tổ quốc”
Nguyễn Văn Hòa sau này nói:
“Chúng tôi không lùi vì sau lưng là Tổ quốc”.
Đó không chỉ là một câu nói về trận Đồng Dù.
Nó phản ánh tâm thế của những người lính trong những ngày cuối cùng của chiến tranh.
Họ biết phía trước là một căn cứ mạnh.
Biết có thể hy sinh.
Nhưng vẫn tiến.
17. Một ngày sau
Ngày 30/4/1975.
Sau khi Đồng Dù bị đánh chiếm, hướng Tây Bắc Sài Gòn đã được mở.
Theo tư liệu của Báo Lào Cai, lực lượng ta được nhân dân Củ Chi hỗ trợ và bắt giữ Chuẩn tướng Lý Tòng Bá cùng một số sĩ quan của Sư đoàn 25.
Những đơn vị từ Đồng Dù tiếp tục phát triển vào nội đô.
18. Người lính nhìn thấy bầu trời của mình
Đến trưa 30/4, chiến tranh kết thúc.
Nguyễn Văn Hòa cùng đồng đội đón tin chiến thắng trong một tâm trạng rất đặc biệt.
Sau những năm tháng hành quân.
Sau hàng trăm trận đánh.
Sau những người đồng đội đã nằm lại.
Cuối cùng, chiến tranh kết thúc.
Ông nhớ lại cảm giác ấy:
“Đây là trời của ta, đất của ta!”
19. Niềm vui đi cùng nỗi đau
Người sống sót có thể reo mừng.
Nhưng ngay trong niềm vui ấy vẫn có những khoảng trống.
Những chiếc ba lô không còn người mang.
Những người lính không trở về.
Những lá thư chưa kịp gửi.
Những gia đình ở quê vẫn chờ.
Nguyễn Văn Hòa nói rằng ký ức về những người đồng đội nằm lại Đồng Dù vẫn luôn đau đáu trong ông.
20. Nếu Đồng Dù không được chiếm
Nhiều năm sau, khi nhìn lại trận đánh, Nguyễn Văn Hòa nói một câu rất rõ:
Nếu không chiếm được Đồng Dù, không thể mở cánh cửa tiến vào trung tâm Sài Gòn.
Đó là cách một người trực tiếp chiến đấu nhìn lại ý nghĩa của trận đánh.
Đồng Dù không phải điểm cuối.
Nó là cánh cửa.
Và sau cánh cửa ấy là Sài Gòn.
21. Từ người lính trẻ đến người Anh hùng
Nguyễn Văn Hòa chỉ có khoảng ba năm chiến đấu.
Nhưng đó là ba năm với cường độ đặc biệt cao.
Từ một thanh niên nhập ngũ năm 1972, ông trở thành người lính chủ lực tham gia những chiến dịch lớn nhất của mùa Xuân 1975.
Sau ngày thống nhất, cuộc chiến của ông chưa kết thúc hoàn toàn.
22. Lại khoác súng bảo vệ biên giới
Sau năm 1975, Nguyễn Văn Hòa tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.
Một cuộc chiến mới.
Một chiến trường mới.
Nhưng với ông, đó vẫn là nhiệm vụ của người lính.
Và những thành tích trong quá trình chiến đấu, công tác sau đó đã góp phần dẫn tới việc ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND vào tháng 12/1979.
23. Người Anh hùng trở về với đời thường
Hòa bình lập lại, Nguyễn Văn Hòa rời tay súng.
Ông cầm cuốc, cầm xẻng.
Trở lại với công việc xây dựng quê hương.
Nhưng phẩm chất của người lính vẫn theo ông trong những công việc mới.
Ông từng giữ nhiều vị trí công tác ở Lào Cai và Hoàng Liên Sơn, trong đó có Bí thư Tỉnh đoàn Hoàng Liên Sơn, sau này là Bí thư Tỉnh đoàn Lào Cai, rồi Bí thư Thị ủy Cam Đường, Bí thư Đảng ủy Khối Các cơ quan tỉnh và Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy.
24. Người kể chuyện cho thế hệ sau
Khi nghỉ hưu, Nguyễn Văn Hòa vẫn tiếp tục tham gia các hoạt động giáo dục truyền thống.
Các trường học mời ông đến nói chuyện.
Ông kể về chiến tranh.
Kể về Tây Nguyên.
Kể về những cuộc hành quân.
Kể về Đồng Dù.
Nhưng có lẽ câu chuyện ông nhớ nhất vẫn là những người không trở về.
25. Ba năm – một đời ký ức
Nguyễn Văn Hòa chỉ có ba năm chiến đấu trực tiếp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhưng ba năm ấy chứa đựng cả một đời ký ức.
Một chàng trai rời nhà ngày 22/12/1972.
Một người lính hành quân vào Nam.
Một chiến sĩ đi qua Tây Nguyên.
Một người lính vượt đường 7.
Một chiến sĩ tiến về Đồng Dù.
Một người sống sót bước ra khỏi ngày 30/4.
26. Và những người đã nằm lại
Có những người cùng ông xuất phát.
Nhưng không cùng ông trở về.
Họ nằm lại ở những cánh rừng Tây Nguyên.
Trên đường 7.
Ở Phú Yên.
Đồng Nai.
Và đặc biệt là tại Đồng Dù.
Nguyễn Văn Hòa nói rằng chính ký ức về họ khiến ông không thể coi chiến thắng chỉ là một ngày vui.
27. Một người lính nhìn lại chiến tranh
Nửa thế kỷ sau, người thanh niên năm nào đã trở thành một cựu chiến binh tóc bạc.
Nhưng khi nhắc đến Đồng Dù, ký ức dường như vẫn còn rất gần.
Ông nhớ tiếng pháo.
Nhớ hàng rào.
Nhớ những người lính ngã xuống bên cạnh.
Nhớ những mảnh lương khô.
Nhớ cuộc hành quân trong đêm.
Và nhớ khoảnh khắc biết rằng đất nước đã thống nhất.
28. “Đây là trời của ta, đất của ta”
Có lẽ đó là một trong những câu nói đẹp nhất trong hồi ức của Nguyễn Văn Hòa.
Bởi người lính đã đi qua chiến tranh không chỉ để chiếm một căn cứ.
Không chỉ để tiến vào một thành phố.
Mà để đến ngày được nhìn đất nước trong một trạng thái khác:
không còn chia cắt.
29. Đồng Dù – một cánh cửa đã mở
Ngày 29/4/1975, Đồng Dù thất thủ.
Ngày 30/4, Sài Gòn được giải phóng.
Hai ngày nối tiếp nhau.
Giữa hai ngày ấy là máu của rất nhiều người lính.
Nguyễn Văn Hòa là một trong những người trực tiếp bước qua “cánh cửa thép” ấy.
Ông sống sót.
Nhưng ông không quên những người đã không thể bước qua.
Lời kết – Người lính từ Lào Cai đến cánh cửa thép Đồng Dù
Ngày 22/12/1972, Nguyễn Văn Hòa rời gia đình.
Ông là một chàng trai tuổi đôi mươi.
Mang theo nhiệt huyết của một người lần đầu khoác áo lính.
Ông không thể biết rằng chưa đầy ba năm sau, mình sẽ đứng ở cửa ngõ Sài Gòn.
Ông đi qua Tây Nguyên.
Đi qua Chư Sê.
Cheo Reo – Phú Bổn.
Đường 7.
Phú Yên.
Đồng Nai.
Mỗi địa danh là một trận đánh.
Mỗi trận đánh là một lần tiến gần hơn đến ngày kết thúc chiến tranh.
Rồi cuối tháng 4/1975, ông cùng đồng đội thần tốc tiến về Sài Gòn.
Trước mặt họ là Đồng Dù.
Một căn cứ được bảo vệ bởi hàng rào thép gai, lô cốt, bãi mìn và hỏa lực mạnh.
Một nơi được xem như cánh cửa thép án ngữ hướng Tây Bắc Sài Gòn.
Rạng sáng 29/4.
Pháo binh nổ.
Bộ binh tiến lên.
Mìn được phá.
Hàng rào bị mở.
Xe tăng và bộ binh thọc sâu.
Những người lính tiến từng mét.
Và mỗi mét đất đều có thể phải trả bằng một mạng người.
Nguyễn Văn Hòa nhớ những đồng đội ngã xuống bên mình.
Có người chỉ kịp gọi cha mẹ.
Rồi không còn nói được nữa.
Nhưng những người còn sống vẫn tiến.
Bởi phía sau họ là những người đã ngã xuống.
Và phía trước là Sài Gòn.
Khoảng 11 giờ ngày 29/4, Đồng Dù hoàn toàn được làm chủ.
“Cánh cửa thép” đã bị phá.
Ngày hôm sau, những đơn vị từ hướng này tiếp tục tiến vào Sài Gòn.
Trưa 30/4.
Nguyễn Văn Hòa và đồng đội biết rằng chiến tranh đã kết thúc.
Ông nhìn lên bầu trời.
Và sau những năm tháng chiến đấu, ông nghĩ:
“Đây là trời của ta, đất của ta!”
Nhưng niềm vui ấy không thể xóa đi nỗi đau.
Bởi những người đồng đội đã nằm lại ở Đồng Dù không thể nhìn thấy bầu trời của ngày hòa bình.
Sau chiến tranh, ông lại tiếp tục cầm súng bảo vệ biên giới phía Bắc.
Đến tháng 12/1979, Nguyễn Văn Hòa được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau đó ông trở về với công việc xây dựng quê hương.
Nhưng ký ức chiến trường vẫn ở lại.
Ngày nay, khi kể về Đồng Dù, ông không nói nhiều về riêng mình.
Ông nói về đồng đội.
Về những người đã nằm lại.
Về lời hứa của người còn sống.
Và về ý nghĩa của trận đánh:
“Nếu không chiếm được Đồng Dù, thì không thể mở cánh cửa tiến vào trung tâm Sài Gòn.”
Nguyễn Văn Hòa đã đi một hành trình rất dài.
Từ một mái nhà ở Lào Cai.
Đến những cánh rừng Tây Nguyên.
Đến đường 7.
Đến Đồng Nai.
Đến Đồng Dù.
Và cuối cùng là ngày đất nước thống nhất.
Một hành trình chỉ kéo dài khoảng ba năm trên chiến trường.
Nhưng đủ để biến một chàng trai tuổi đôi mươi thành một người lính mang theo ký ức chiến tranh suốt phần đời còn lại.
Nguyễn Văn Hòa – người lính Lào Cai.
Người đã đi qua Tây Nguyên.
Người đã cùng đồng đội đánh chiếm Đồng Dù.
Người đã bước qua “cánh cửa thép” để mở đường vào Sài Gòn.
Và người sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhưng có lẽ, danh hiệu không phải điều ông nhớ nhất.
Điều ông nhớ nhất là những người đã nằm lại.
Bởi với người lính trở về sau chiến tranh:
chiến thắng là niềm tự hào, nhưng ký ức về đồng đội mới là thứ đi theo họ suốt đời.








Quân đội ta tiêu diệt căn cứ quân sự Đồng Dù. Ảnh: Tư liệu



