Nguyễn Văn Hợi_ “Người canh giữ những trang đời dang dở”.
Nguyễn Văn Hợi_ “Người canh giữ những trang đời dang dở”.
Nguyễn Văn Hợi_ “Người canh giữ những trang đời dang dở”.
Thông tin cơ bản
-Họ và tên: Nguyễn Văn Hợi
-Sinh năm: 1950
-Quê quán: Phố Vĩnh Thịnh , phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chức vụ trong chiến tranh: Ông từng là Trợ lý Quân lực (kiêm văn thư) của Tiểu đoàn K3 _Tam Đảo.
-Cấp bậc/Thương tật: Rời chiến trường với quân hàm Thượng sĩ và là thương binh hạng 1/4 (tỉ lệ thương tật 81%).
-Vị trí hiện tại: Ông cư trú tại TP. Nam Định (tỉnh Nam Định) và đảm nhiệm vai trò Trưởng ban liên lạc Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo.
- Ông nổi tiếng với cuốn nhật ký mang tên “Từ Khe Sanh đến Thành Cổ Quảng Trị”_cuốn nhật ký ghi chép tỉ mỉ từ ngày 21/1/1968 đến ngày ông rời quân ngũ (tháng 4/1973).
- Ông là một trong ít những người còn sống sót sau cuộc chiến khốc liệt bảo vệ Thành cổ Quảng Trị suốt 81 ngày đêm và ông cũng là một trong những nhân chứng sống giúp đoàn làm phim “ Mưa đỏ” tái hiện chân thực cuộc chiến tại Thành cổ.
Nội dung tác phẩm:
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hợi sinh ra và lớn lên tại khu phố Vĩnh Thịnh, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên. Sau khi nhập ngũ, ông được biên chế vào Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 246, Quân khu Việt Bắc. Sau này Tiểu đoàn K3 được tăng cường cho Tỉnh đội Quảng Trị và cái tên Tiểu đoàn K3 – Tam Đảo đã đi vào lịch sử với thắng lợi trong chiến dịch giải phóng Khe Sanh – Đường 9, chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 - nơi ta và địch giành nhau từng tấc đất, mỗi mét vuông đất là biết bao xương máu của các anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống. Nơi đây, các cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn đã nêu cao ý chí quyết tâm giữ vững Thành cổ .
Ông là một trong hơn 10 chiến sĩ cuối cùng của Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo đã chấp hành lệnh rút lui chiến thuật ra khỏi Thành cổ vào đêm ngày 15/9/1972. Người cựu chiến binh cằn cỗi ấy mang trong mình cả một bầu trời ký ức về những ngày lửa đạn. Những kỷ niệm không chỉ là con số hay địa danh, mà là những thước phim sống động bắt đầu từ những bước chân đầu tiên trên dãy Trường Sơn khắc nghiệt:
Ngày 1 tháng 5 năm 1968, Nguyễn Văn Hợi cùng đồng đội dấn thân vào một cung đường hành quân gian khổ nhất mà họ từng đi qua. Trước mắt họ là những ngọn núi đá vôi cao chót vót của miền Tây Quảng Bình. Địa hình dốc đứng, đá tai mèo nhọn hoắt như chực chờ xé rách da thịt. Có những khe đá hẹp đến mức người lính phải loay hoay mãi mới lách được chiếc ba lô qua.
Khi vượt qua được hai cái thang gỗ, cơ thể ông dường như muốn quỵ xuống. Cơn khát cháy cổ cộng với mồ hôi đổ ra như tắm khiến sức lực cạn kiệt. Do vừa bị cảm, ông thấy mình run lên bần bật giữa rừng già. Nhưng trong bóng tối và sự mệt mỏi ấy, tiếng động viên của anh em đồng đội đã trở thành điểm tựa giúp ông tiếp tục bước về phía trước.
Đến ngày 26 tháng 6 năm 1968, đơn vị của ông lên chốt trên cao điểm 622 tại mặt trận Khe Sanh. Những địa danh như Tà Cơn, làng Vây, Khe Sanh vốn chỉ là những cái tên xa lạ qua lời kể, nay đã hiện ra ngay trước mắt. Nguyễn Văn Hợi chính thức trở thành một chiến sĩ giải phóng quân, ngày đêm vây ép quân Mỹ ở cao điểm 689. Những tên lính Mỹ nào liều lĩnh rời hầm đều trở thành mục tiêu của súng bắn tỉa và cối 82 từ phía ông và chiến sĩ quả cảm
Lúc này, bom đạn từ máy bay L19 hay B52 đã trở thành điều quá đỗi quen thuộc. Ngồi bên sườn hố bom trên đỉnh 622 giữa đêm khuya, nghe tiếng gió nồm nam thổi và đếm sao rơi, người chiến sĩ trẻ cảm thấy mình lớn lên rất nhiều. Nỗi sợ hãi những ngày đầu đã được thay thế bằng bản lĩnh và sự điềm tĩnh.
Vào sáng ngày 1 tháng 7 năm 1968 sau khi đưa thương binh ra ngoài, ông Hợi quay vào mang lệnh rút quân nhưng ban chỉ huy đại đội gồm 5 người, trong đó có ông và Đại đội trưởng Sơn, đã bị kẹt lại dưới chân cao điểm 689. Trong chiếc hố đào vội chật hẹp, không thể duỗi chân, họ phải chịu trận dưới cơn mưa đạn pháo và đại liên của địch.
Khi chiếc L19 phóng hỏa lực chỉ điểm, tình thế trở nên cực kỳ nguy nan. Đại đội trưởng Sơn dặn ông phải bình tĩnh, đợi địch đến thật gần mới nổ súng. Nhưng khi anh Sơn vừa bật khỏi công sự để di chuyển thì bị trúng đạn vào mặt, máu chảy đầm đìa.
Chứng kiến đồng đội bị thương, lòng căm thù sục sôi, Nguyễn Văn Hợi quay lại thì thấy hai tên Mỹ đã xuất hiện từ khi nào chỉ cách ông 3 mét. Ông kịp thời siết cò, hạ gục hai tên địch ngay tại chỗ. Nhận thấy quân địch quá đông, ông quyết định đánh lạc hướng để cứu đồng đội. Sau khi ném liên tiếp hai quả lựu đạn, ông bật dậy lăn tròn xuống chân cao điểm, thoát khỏi vòng vây trong sự ngỡ ngàng của kẻ thù.
Bốn năm sau, ngày 10 tháng 7 năm 1972, ông cùng Tiểu đoàn vượt sông Thạch Hãn tiến vào chốt giữ Thành cổ Quảng Trị. Đây là một trong những trận chiến ta bị tổn thất nặng nề nhất với số lượng bom được thả xuống ước tính xấp xỉ khoảng 7 quả bom nguyên tự thả xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản, ngoài ra có thể nói một người tử sĩ tại Thành Cổ Quảng Trị một ngày có thể hy sinh tới 7 lần vì số lượng người hy sinh quá nhiều không thể mang tất cả sang sông được nên phải chôn tại chỗ. Vì vậy , mật độ bom được thả xuống quá dày đặc khiến cho phần đất chôn bị xới tung , thân thể các tử sĩ bị bom tàn phá không còn nguyên vẹn,... Nguyễn Văn Hợi, với cương vị là đội trưởng thuộc Tiểu đoàn K3 Tam Đảo, sống cùng đồng đội trong hệ thống hầm hào hật hẹp, nơi mặt đất phía trên liên tục bị cày nát. Công việc mỗi ngày của ông bắt đầu bằng việc kiểm tra đội hình còn lại sau đêm pháo kích: ai còn ở vị trí, ai bị thương, ai đã không trở về. Ông và đồng đội chiến đấu hết mình vì để giữ một lời_ một lời thề cao cả trước Tổ Quốc khi Tư lệnh Mặt trận Lê Trọng Tấn đích thân xuống trao nhiệm vụ đặc biệt.
“K3 Tam Đảo chúng tôi còn ,thì thành cổ Quảng Trị còn”
Ban ngày, ông cùng anh em đào lại hầm, gia cố công sự bị sập, ngụy trang trận địa bằng những tấm tăng rách và đất bùn trộn lẫn mùi thuốc súng. Ban đêm, ông phân công canh gác, quan sát hướng tiến công của địch, chuẩn bị đạn dược trong ánh sáng lờ mờ của đèn pin che kín. Có những ngày người lính chỉ sống bằng gạo sấy và nước mưa hứng được trong hố bom. Nước phải chia từng ngụm nhỏ vì nước sạch cực kì khan hiếm . Sông Thạch Hãn khi ấy không mang màu xanh mà có màu đỏ đậm với phù sa, ít ai can đảm dám ra sông uống vì có thể bị địch bắn bất kì lúc nào và hơn hết, dòng sông khi ấy đã đậm màu máu của các chiến sĩ đã hy sinh . Áo quần không còn khô,lương thực khan hiếm, da thịt bám đất, bám bùn và mùi chết chóc. Giấc ngủ bị chia cắt thành từng mảnh vụn, nhiều khi vừa chợp mắt thì pháo lại dội xuống, buộc tất cả bật dậy trong bản năng sinh tồn. Những lúc chiến sự dâng đến cao điểm, khi pháo địch dội xuống liên hồi làm hào giao thông sụp đổ từng đoạn, ông Nguyễn Văn Hợi cùng đồng đội vẫn phải bò qua lớp đất đá còn rung lên vì sức nổ để cáng những người bị thương về hầm trú ẩn. Việc băng bó khi ấy chỉ là tạm thời: vài miếng băng cá nhân, mảnh áo xé vội, cầm máu trong ánh đèn pin được che kín, rồi chờ đến lúc pháo ngớt mới tìm cách đưa họ ra tuyến sau. Với những người không còn sống, ông là người nhớ rõ nhất vị trí họ ngã xuống, thời điểm hy sinh và gương mặt còn in lại trong khoảnh khắc cuối cùng. Nhiều thi thể không thể di chuyển vì hỏa lực quá dày, buộc phải để lại ngay trong lòng đất Thành cổ. Bom dập , bom vùi, những thi thể hòa lẫn vào với đất , chẳng còn nguyên vẹn. Có lẽ đây là điều mà ông ghi nhớ suốt , nỗi đau mất mát khó có thể diễn tả.
Trong những khoảng lặng hiếm hoi giữa hai đợt pháo, ông và đồng đội ngồi sát vào nhau dưới hầm đất ẩm, chuyền tay một điếu thuốc đã ướt mùi bùn đất, lặng lẽ đọc lại vài dòng thư nhà nhàu nát. Theo lời ông kể sau này, chính những khoảnh khắc nhỏ bé ấy giúp người lính níu giữ cảm giác mình vẫn là con người giữa chiến trường bị nghiền nát bởi bom đạn. Ông hiểu rõ hơn ai hết rằng, nếu tinh thần sụp đổ trước, thì trận địa dù còn súng đạn cũng không thể giữ được.
Những ngày tháng ấy trôi qua, để lại trong ông không chỉ ký ức về chiến đấu, mà còn là danh sách vô hình những cái tên. Sau chiến tranh, khi hòa bình lập lại, ông trở thành Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Tiểu đoàn K3 Tam Đảo. Công việc ông làm khi ấy là lần tìm, kết nối, bổ sung những tên tuổi từng bị thất lạc trong khói lửa. Đó là sự tiếp nối tự nhiên của vai trò đội trưởng năm xưa: ngày trước giữ người sống ở lại trận địa, ngày sau giữ cho người đã khuất không bị quên lãng. Ông từng chia sẻ rằng:
"Tôi luôn đau đáu một điều là làm sao tìm được hết anh em về. Bởi vì là họ đã dâng hiến cả tuổi thanh xuân cho tổ quốc rồi. Thế cho nên là mình là người sống sót thì mình phải có trách nhiệm."
Ý thức về trách nhiệm ấy khiến một người lính năm xưa, nay đã tóc bạc trắng, vẫn miệt mài lật lại từng trang sổ tay ố vàng, đi khắp các nghĩa trang để đối chiếu, tìm tên, trả lại danh tính cho những người đã “hóa thân vào cát bụi”_những đồng đội từng vào sinh ra tử rồi nằm lại nơi mảnh đất Thành cổ đau thương. Câu chuyện về ông Nguyễn Văn Hợi để lại một bài học sâu sắc về trách nhiệm và lòng tri ân về sự hy sinh biết ơn đối với thế hệ đi trước. Chiến tranh đã kết thúc nhưng hậu quả của nó kéo dài trong ký ức của những người ở lại. Qua đó nhắc nhở các thế hệ sau rằng: lịch sử không chỉ được viết bằng chiến thắng, mà còn được gìn giữ bằng sự nhớ ơn. Nhớ để hiểu giá trị của hòa bình, nhớ để sống có trách nhiệm hơn với hiện tại, và biết gây dựng góp phần phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh.



