Bài viết

Nguyễn Văn Hứ, người lính trọn đời với Mù Cang Chải

Trong căn nhà gỗ khiêm nhường ở tổ 5, thị trấn Mù Cang Chải, Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hứ bồi hồi kể lại cho tôi nghe những chuyện cách đây đã bảy, tám chục năm. Ông bảo, nơi chôn rau cắt rốn của mình là làng Minh Côi cạnh dòng sông Hồng thuộc đất Hạ Hoà, Phú Thọ, vốn màu mỡ, phì nhiêu lắm nhưng dân làng lại phải bỏ quê lang bạt khắp nơi kiếm sống vì Pháp, rồi Nhật hùa nhau vơ vét, bóc lột đã làm cho nó xác xơ. Năm 1944, vừa sang tuổi 16, ông phiêu dạt lên xóm Nước Mát, xã Âu Lâu, Trấn Yên, Yên

Lào Cai03/12/2025Nguyễn Hiền Lương (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhấp ngụm nước chè, trầm ngâm hồi lâu rồi ông Hứ nói:

- Chú hỏi, đời lính của tôi có chuyện gì đáng nhớ nhất à? Mấy chục năm quân ngũ của tôi nhiều chuyện đáng nhớ lắm chú ạ, song nếu chọn kỷ niệm sâu đậm nhất trong tôi thì đó là những ngày tiễu phỉ ở Hồ Bốn, Mù Cang Chải. Cuộc đời tôi cũng gắn bó với đất Mù Cang Chải từ ngày ấy …

Nói tới đấy, ánh mắt người Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hứ chợt trở lên xa xăm như đang nhìn sâu vào quá khứ, để sống lại một thời trai trẻ… Ngày ấy, Thực dân Pháp trở mặt, trâng tráo gây hấn hòng cướp nước ta một lần nữa. Chiến khu Vần- Hiền Lương lại trở thành căn cứ địa chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Văn Hứ xung phong vào bộ đội, được biên chế vào Đại đội 96- bộ đội địa phương Yên Bái. Từ đó đến năm 1953, ông cùng đồng đội bám rừng, chiến đấu, lần lượt nhổ các đồn địch ở Púng Luông, Kim Nọi, Sam Sảu, Khau Co, Dương Quỳ, Làng Cóc … giải phóng đồng bào các dân tộc thoát khỏi ách kìm kẹp của kẻ thù. Đầu năm 1953, phần lớn tỉnh Yên Bái đã được giải phóng. Yên Bái trở thành nơi cửa ngõ đón các đoàn quân lên tham gia Chiến dịch Điện Biên. Tiểu đội trưởng Hứ và đồng đội đang mong ngóng được tham gia chiến dịch lớn thì nhận lệnh cấp tốc lên Than Uyên làm nhiệm vụ tiễu phỉ. Trước khi lên đường, các chiến sỹ được quán triệt: Hiện Pháp đã tung nhiều toán gián điệp, biệt kích vào vùng giải phóng của ta, lập các toán phỉ nhằm gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng chiếm lại các địa bàn đã được giải phóng hòng thay đổi thế cờ đang khốn đốn. Ở Than Uyên bọn phỉ đã liều lĩnh cướp kho mậu dịch Mường Cang, đánh chiếm Mường Khoa, Thân Thuộc, Mường Than, tập kích cơ quan Huyện ủy, Ủy ban Hành chính huyện, giết chết ba đồng chí lãnh đạo huyện. Lực lượng phỉ Than Uyên đã lên tới 2.000 tên, được máy bay Pháp liên tục thả dù tiếp tế vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men. Chúng âm mưu chiếm toàn bộ Than Uyên, lấy Than Uyên làm bàn đạp để phát triển bạo loạn tới Mường Kim, Khau Mang, Lao Chải, Mồ Dề, rồi xuống Văn Chấn, sang Văn Bàn, Lục Yên. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Yên Bái quyết định huy động toàn lực lượng gấp rút tiến hành tiễu phỉ Than Uyên, phá tan hang ổ của chúng, ngăn chặn sự phát triển ra các địa bàn khác. Đồng chí Nguyễn Đức, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái kiêm Chính trị viên Tỉnh đội và đồng chí Nguyễn Tiến Thanh, Tỉnh đội trưởng lên Than Uyên trực tiếp chỉ đạo chiến dịch tiễu phỉ. Cùng với lực lượng bộ đội địa phương Yên Bái còn có các đơn vị bộ đội chủ lực tiến hành chiến dịch tiễu phỉ trên toàn vùng Tây Bắc. Mỗi đơn vị được phân công phụ trách một địa bàn. Đại đội 96 được phân công về Hồ Bốn, một địa bàn rừng núi hiểm trở, 100% dân số là người Mông, cũng là một điểm nóng về hoạt động của phỉ. Về Hổ Bốn, đại đội làm lán đóng quân tại bản nhưng dân luôn tìm cách tránh mặt bộ đội. Bộ đội chào, hỏi dân cũng không thưa, hoặc chỉ lắc đầu “chi pâu”1. Về bản đã gần một tháng, tổ chức canh phòng, mở nhiều đợt truy quét nhưng không có kết quả, có chiến sỹ còn bị phỉ sát hại rất dã man. Một sáng, dậy tập hợp tập thể dục, bộ đội phát hiện có nhiều băng giấy dán trong bản với lời lẽ xuyên tạc, xảo trá, nhằm phá hoại chính quyền cách mạng, ly gián giữa bộ đội với nhân dân: “Đả đảo bộ đội”, “Xứ Mông tự trị không có người Kinh”, “Người Mông phải về với vua Mông”, “Đánh người Kinh để không phải đóng thuế, không phải đi dân công”, “Người thiểu số không bắn người thiểu số”… Chắc chắn đây là âm mưu đen tối của bọn phỉ. Nhưng ai đã dán những khẩu hiệu này trong bản? Chả lẽ canh phòng chặt chẽ thế, bọn phỉ vẫn vào được trong bản để dán khẩu hiệu chống phá cách mạng? Ngay sáng hôm ấy toàn đại đội được quán triệt, cầm đầu các toán phỉ là người bản địa, có quan hệ gia đình, họ tộc với dân bản. Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của đồng bào dân tộc thiểu số chúng bịa đặt, vu khống chính quyền, dùng tiền, gạo, muối, vải, thuốc để mua chuộc, lôi kéo đồng bào theo chúng, chúng còn phát súng cho các trai bản, kích động họ gây bạo loạn hòng lật đổ chính quyền của ta. Bọn phỉ cũng rất thông thuộc địa hình, địa vật, thoắt hiện, thoắt ẩn, rất khó lường. Vì vậy việc tiễu phỉ sẽ phải khác với việc đánh đồn địch. Bao câu hỏi đặt ra trong đầu tiểu đội trưởng Hứ mà chưa tìm được đáp án. Làm thế nào để dân không theo phỉ? Làm thế nào để phá tan hang ổ của phỉ trong rừng sâu ? Đã tham gia du kích rồi vào bộ đội gần 10 năm, chiến đấu trong vùng địch tạm chiếm là địa bàn rừng núi hiểm trở suốt từ Than Uyên, Văn Bàn lên Sa Pa, sang Bình Lư, Lai Châu, đối mặt với bao gian khổ, hiểm nguy nhưng chưa bao giờ tiểu Hứ lại thấy nhiệm vụ tiễu phỉ lại khó khăn, phức tạp đến thế.

Một chiều, Hứ đang trên đường vào rừng bỗng giật mình bởi tiếng kêu thất thanh “Bộ đội! Bộ đội!”. Theo phản xạ, Hứ vừa cúi thấp người xuống thì một mũi tên bay vèo ngay trên đỉnh đầu, rồi có tiếng chân người chạy ngược lên núi. Ngay lúc đó một cô gái Mông còn trẻ, đeo lù cở chạy đến bên, hỏi trong hơi thở dồn: Bộ đội có làm sao không?- Rồi cô hổn hển bảo- Nó là A Lềnh, anh rể mình, nó làm phỉ trên núi, hôm nay chị gái ốm nên mình phải thay chị mang cơm cho nó. Thấy bộ đội đi một mình, nó bắn tên tẩm thuốc độc định làm cho bộ đội chết, mình sợ quá hét lên, nó chạy rồi, bộ đội đừng sợ.

Hứ vội cảm ơn cô gái rồi hỏi:

- Tại sao cô lại cứu tôi?

Cô gái ấp úng bảo:

- Vì mình không muốn bộ đội chết.

Hứ lại hỏi:

- Vậy sao dân bản lại cứ tránh mặt bộ đội? Có phải dân ghét bộ đội không?

Cô gái cúi đầu khẽ bảo:

- Dân không ghét bộ đội mà chỉ sợ thôi.

- Sao dân bản lại sợ bộ đội? Cô thấy bộ đội có làm điều gì ác đâu?

Nghe Hứ hỏi, cô gái ấp úng:

- Bộ đội không làm ác, nhưng … dân bản sợ bộ đội… giết phỉ, vì phỉ cũng là anh em, chồng, con của dân bản mà. Nhưng dân bản cũng không muốn nó làm phỉ đâu.

Nghe cô gái nói, Hứ liền hỏi:

- Vậy sao dân bản không gọi chồng, con, anh em của mình về?

Cô gái khẽ lắc đầu, giọng buồn buồn:

- Cũng muốn gọi nó về lắm nhưng lại sợ bộ đội bắt nó, rồi giết nó, nên dân bản không dám gọi về.

Thì ra mấu chốt của vấn đề là dân sợ bộ đội giết phỉ, tức là giết con, em, chồng, cháu của họ, chứ không phải là dân cố tình chống đối cách mạng. Vậy phải nói cho dân hiểu mục đích tiễu phỉ là tiêu diệt bọn đầu sỏ, phá tan âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng, chứ không giết người vì thiếu hiểu biết mà theo phỉ. Hứ liền bảo cô gái:

- Bộ đội không giết người lầm đường theo phỉ đâu, chỉ muốn mọi người bỏ phỉ về bản làm ăn thôi. Về bản thì gia đình được đoàn tụ, có cuộc sống ấm no.

- Có thật thế không? - Cô gái ngắt lời Hứ. - Không biết nói sao để cô gái tin lời mình, Hứ liền lấy trong túi áo ngực ra tấm ảnh Bác Hồ mà ông luôn nâng niu cất giữ đưa cho cô gái xem, rồi hỏi:

- Cô có biết ai đây không?

Cô gái nhìn tấm ảnh, reo lên:

- Bác Hồ! Hồi trước cán bộ Mạnh cũng có một cái Bác Hồ thế này. Mình đã được xem rồi mà.

Hứ liền nghĩ, phải thông qua cô gái này để tiếp cận với dân bản nên vội nói:

- Bộ đội tặng cô ảnh Bác Hồ đấy. Bộ đội cũng như cán bộ Mạnh, đều là con cháu của Bác Hồ. Bộ đội là bộ đội Cụ Hồ. Nhờ cô nói với dân bản là bộ đội Cụ Hồ không giết người lầm đường theo phỉ, chỉ kêu gọi họ bỏ phỉ về nhà làm ăn. Cô có đồng ý không? Mà tên cô là gì nhỉ?

Cô gái khẽ gật đầu, bảo tên mình là Cứ Thị Mỷ. Chia tay Mỷ, trên đường trở về, Hứ chợt lóe lên ý nghĩ: Phải làm cho dân hiểu, tin bộ đội thì mới có thể tiêu diệt được phỉ. Muốn vậy, dù dân có tránh mặt, bộ đội cũng không được xa dân. Ngay tối đó, trong buổi sinh hoạt đại đội, Hứ kể lại câu chuyện gặp Mỷ và đưa ra ý kiến: Bộ đội không nên ở tập trung ngoài lán nữa nữa mà chia thành từng tổ về nhà dân cùng ở, cùng ăn, cùng làm với dân. Có thể dân mới hiểu và tin bộ đội. Ý kiến của Hứ được đại đội chấp nhận và triển khai ngay sáng hôm sau. Mỗi tổ 3 người về ở tại một gia đình. Không nói gì đến tiễu phỉ, việc đầu tiên là dọn dẹp vệ sinh quanh nhà, cắt tóc, gội đầu cho trẻ con, rồi tu sửa đường sá trong bản. Khi bộ đội vào ở cùng dân mới biết dân đói lắm. Bịch thóc, bịch ngô nhà nào cũng trống trơn. Người già, trẻ con cũng phải ăn củ nâu, củ ráy, bột báng, rau rừng. Những gia đình có người theo phỉ, cuộc sống càng khốn khó hơn, vì những lao động chính, trẻ, khỏe nhất trong nhà đã vào rừng làm phỉ, dẫn đến cảnh vợ không có chồng đỡ đần, con không có bố dạy dỗ, bố mẹ già không có con chăm sóc. Đã thế, có chút ngô, gạo nào lại lo lén lút tiếp tế cho người thân làm phỉ nên kinh tế đói càng thêm đói, lam lũ càng thêm lam lũ. Trước tình cảnh ấy, bộ đội đã giành phần gạo ít ỏi của mình cho người già, trẻ em; rồi vào rừng mót sắn, đào củ nâu, chặt cây báng mài lấy bột ăn. Thấy ruộng nương của đồng bào bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, bộ đội lên nương phát cỏ, cuốc đất rồi vận động đồng bào trồng ngô, khoai, sắn. Ở bản chỉ có một số người nói được tiếng Kinh, để có thể trò chuyện được với nhiều người, bộ đội nhờ đồng bào dạy nói tiếng Mông. Vừa học tiếng vừa tranh thủ trò chuyện. Hỏi sao lại dân bản mình lại để cho người thân vào rừng làm phỉ, ai cũng bảo: Không bảo đâu mà, nó thích thì nó đi thôi. - Vận động bà con vào rừng gọi người thân trở về, họ cũng bảo: Không dám gọi đâu, nó khắc đi, khắc về thôi…- Song bộ đội Đại đội 96 không nản chí vẫn bám sát và giúp đỡ dân bản. Mưa dầm thấm lâu. Thấy bộ đội không quản vất vả, gian nguy, luôn tận tình giúp đỡ dân, một hôm ông Vàng Lử rụt rè hỏi: Thằng Vàng Lềnh con tao làm phỉ trên núi. Nếu tao gọi nó về, bộ đội Hứ không bắt giết nó chứ? Nếu bộ đội Hứ đồng ý không giết nó thì cắt máu ăn thề với tao. - Không chần chừ Hứ liền cắt máu ăn thề với ông Vàng Lử. Ngay hôm sau ông Vàng Lử lên núi tìm gặp Vàng Lềnh. Xẩm tối mới về bản, ông gọi Hứ ra bảo: Tao gặp thằng Lềnh rồi. Nhưng nó bảo bộ đội phải theo tao vào rừng gặp nó, mà phải đi một mình, không mang theo súng, nó mới tin là bộ đội nói thật. Nếu bộ đội Hứ đồng ý thì sáng mai đi với tao– Hứ thấy đây là cơ hội có một không hai nên dù rất nguy hiểm vẫn nhận lời đi. Có đồng chí khuyên không nên tin lời bọn phỉ, nó lừa mình vào rừng tay không để hạ sát mình. Hứ cũng biết có thể xảy ra điều đó nhưng nghĩ nếu mình không dám đi, Lềnh sẽ cho là mình sợ, mình lừa nó. Làm mất lòng tin với người Mông thì lấy lại khó lắm. Hứ bảo với anh em: Cứ để tôi đi, không lo đâu. Nếu nó lật lọng cũng chỉ mình tôi hy sinh nhưng cái chúng ta được là dân và bọn phỉ hiểu bộ đội hết lòng thương dân, bộ đội đã nói là làm, không nói sai, không sợ hãi. - Anh em xin bí mật đi theo sau để nhỡ xảy ra việc gì còn xử lý kịp, nhưng Hứ vẫn quyết một mình. Sáng sau Hứ chỉ mang theo nắm cơm cùng ông Vàng Lử vào rừng. Lên đến lưng chừng núi bỗng một người đàn ông Mông đầu tóc bù xù, mặt cáu bẩn, quần áo rách rưới, tay cầm dao nhọn từ bụi cây ven đường xông ra chặn đường. Ông Vàng Lử vội nói: Lềnh à, bộ đội Hứ đi tay không vào gặp mày đấy. – Vàng Lềnh vẫn lăm lăm con dao trong tay, mắt gườm nhìn Hứ rồi nói: Có thật nếu tao về nhà thì không bị bắt, bị giết không?- Hứ vẫn bình tĩnh nói: Anh Lềnh à, nếu định bắt, định giết các anh thì cả đại đội tôi đã bao vây, nổ súng tấn công rồi. Nhưng đánh nhau thể nào cũng chết người, các anh nổ súng lại càng nặng tội. Tôi đi một mình là để gọi anh về với gia đình làm ăn. Chỉ bọn đầu sỏ, ngoan cố không chịu ra hàng chúng tôi mới buộc dùng đến súng đạn. Đây anh xem, tôi không mang vũ khí, chỉ có nắm cơm, biết trong này anh đang đói nên mang theo để anh ăn, lấy sức cùng về. –Vàng Lềnh lại gườm gườm nhìn nắm cơm. Thấy vậy Hứ vội nói: Anh sợ cơm có độc phải không? Cơm này tôi lấy từ nồi cơm bộ đội và các con anh cùng ăn đấy, tôi ăn một miếng cho anh xem nhé. - Hứ bẻ nắm cơm, ăn một miếng rồi đưa cả cho Lềnh. Lềnh chắc đói quá, vồ lấy nắm cơm ngấu nghiến nhai. Vậy là chiều ấy Hứ đã đưa được Lềnh về bản. Cái tin bộ đội Hứ tay không, một mình vào rừng gọi được Vàng Lềnh về bản nhanh chóng lan đi khắp Hồ Bốn. Mọi người kéo đến hỏi thăm Lềnh về người nhà của họ trong rừng. Vàng Lềnh oang oang bảo: Đóilắm, còn không có cả nước tắm nữa, mà còn bị chỉ huy đánh chửi như con lợn. - Thế là mọi người xúm đến nhờ bộ đội Hứ cùng mình vào rừng gọi người nhà về. Cứ vậy, đàn ông Hồ Bốn theo phỉ đã lần lượt trở về. A Lềnh anh rể Mỷ cũng đã theo Hứ về bản. Chỉ còn ba tên đầu sỏ là người nơi khác đến, không chịu ra hàng. Đại đội 96 quyết định mở cuộc truy quét vào tận sào huyệt, hang ổ tiêu diệt chúng. Chính Vàng Lử, A Lềnh xung phong dẫn đường cho bộ đội “vào hang bắt cọp”. Bị bao vây, không còn đường thoát nhưng bọn chúng vẫn ngoan cố không chịu đầu hàng, định mở đường máu thoát thân buộc bộ đội phải nổ súng, một tên bị bắn chết, một trên bị trọng thương, bắt sống được một tên. Toàn bộ phỉ ở Hồ Bốn bị xóa sổ tận gốc. Những ngày thanh bình lại trở về với Hồ Bốn. Công đầu phải kể đến Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Hứ. Đồng đội đã đặt cho anh cái tên là “Đại Bàng núi”. Còn người Mông Hồ Bốn, đặc biệt là những nhà có người làm phỉ được Hứ gọi về hết sức tin yêu ông, nhiều người nhận ông là anh em kết nghĩa, một thành viên trong gia đình, có việc gì khó khăn, vướng mắc lại tìm ông để hỏi.

Cũng trong những ngày tiễu phỉ gian nan, tình yêu giữa bộ đội Hứ và cô gái Mông khỏe mạnh, xinh xắn, giỏi giang nhất Hồ Bốn Cứ Thị Mỷ đã nảy nở. Mỷ yêu bộ đội Hứ vì Hứ dũng cảm, thật thà, tốt bụng, lại hết lòng thương yêu người Mông. Nhờ có Hứ mà những người đàn ông Hồ Bốn đã bỏ phỉ về với gia đình, đem lại cuộc sống thanh bình cho Hồ Bốn của Mỷ. Không những thế, Hứ còn biết thổi khèn Mông rất hay. Không bao giờ Mỷ quên được đêm ấy. Đêm cuối năm, trời lạnh nhưng trăng rất sáng, tỏa ánh vàng rượi xuống dòng Nậm Kim. Dòng suối như một dải vàng lóng lánh. Hứ ngồi bên Mỷ nhưng hồi hộp quá, mãi rồi mới nói được: Mỷ à, tiễu phỉ xong rồi, bọn anh sắp phải xa Hồ Bốn, nhớ lắm đấy… - Mỷ ngồi im lặng nghe Hứ nói nhưng Hứ lúng túng không biết nói gì thêm. Mấy câu ngỏ lời Hứ nghĩ từ lâu, nhẩm đi nhẩm lại đến thuộc lòng mà sao khi bên Mỷ lại quên hết cả. Còn Mỷ, từ lúc Hứ hẹn gặp đã thấy lòng xôn xao. Nghe Hứ nói dù chưa hết lời, Mỷ cũng đã hiểu điều Hứ muốn nói. Lòng Mỷ lâng lâng nhưng sao lạị thấy ngợp thở, run lên như bị sốt. Bỗng Hứ đứng dậy, cầm cây khèn lên thổi một khèn: Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng/ Em không có lòng thì thôi, có lòng thì ta về với nhau một đêm/ Em không có lòng thì thôi, có lòng ta về ở với nhau một ngày… -Nghe giai điệu của bài “gầu lềnh”2 vừa dìu dặt, vừa sâu lắng, thiết tha, như tiếng gọi từ trái tim của Hứ, Mỷ không cầm lòng được liền đứng dậy xòe ô múa theo giai điệu của bài ca tình yêu. Rồi Mỷ cũng cất lên tiếng hát: Gió về thổi lá cây bên khe/ Nếu em là giọt mưa sương/ Em xin tan trên tay anh/ Gió thổi lá cây lật ngả nghiêng bên suối/ Nếu em là bông tuyết trắng/ Em xin tan dưới bàn tay anh. - Hứ biết trai gái Mông tỏ tình, nếu chàng trai thổi khèn, cô gái xòe ô múa theo là đã bằng lòng yêu. Như vậy là Mỷ đã hiểu điều Hứ muốn nói và đã đồng ý làm vợ Hứ rồi. Vui quá, hai người quên cả thời gian, trăng đã gác mái núi, tiếng chim quyên quy gọi nhau đã hai lần rồi mà hai người vẫn chưa muốn rời nhau.

Cái tin bộ đội Hứ sắp lấy Cứ Thị Mỷ làm vợ nhanh chóng lan đi khắp bản Hổ Bốn. Ai ai cũng mừng vui, khen Hứ, Mỷ đẹp đôi. Đầu năm 1955 chiến dịch tiễu phỉ kết thúc, lúc này cũng là mùa xuân, hoa Tớ dầy bừng đỏ trên các sườn núi. Người Mông các bản mở Hội Gầu Tào, mừng bản làng trở lại cuộc sống thanh bình, cầu xin Ntùban3 phúc, ban sức khỏe, ban mùa màng bội thu. Thanh niên, nam nữ thì nô nức vui hội đạp núi, chơi xuân, đâu đâu cũng vang lên tiếng khèn gọi bạn tình. Cũng vào mùa xuân thắng lợi này, Đại đội 96 và Chi đoàn thanh niên Hồ Bốn làm lễ “hao song”4 cho Nguyễn Văn Hứ và Cứ Thị Mỷ. Ông Vàng Lử nhận làm “no tao song”5. Lễ vật nhà trai mang sang nhà gái xin dâu cũng có một chiếc ô đen với ý nghĩa để che mưa, che nắng cho đôi vợ chồng trẻ đúng theo phong tục người Mông. Còn ông bố Mỷ thì làm chiếc giường hạnh phúc cho hai con cũng đúng tục người Mông. Gường chỉ dài, rộng đủ cho đôi vợ chồng mới cưới muốn nằm được thì phải ôm chặt nhau, để vợ chồng luôn quấn quýt, mãi yêu thương gắn bó bên nhau.

Hai năm sau, ngày 18 tháng 10 năm 1955, Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Châu Mù Cang Chải trong khu tự trị Thái – Mèo, gồm 13 xã của 3 châu Than Uyên, Văn Chấn, Mường La. Tỉnh đội Yên Bái điều động Nguyễn Văn Hứ về làm Huyện đội phó, rồi năm sau lên Huyện đội trưởng Huyện đội Mù Cang Chải, tham gia vào Ban Chấp hành Huyện ủy Mù Cang Chải khoá I. Lúc này Mỷ cũng vừa sinh đứa con thứ hai. Căn nhà nhỏ ven thị trấn huyện, tổ ấm của đôi vợ chồng Kinh- Mông lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười. cộng với tiếng đứa con đầu lòng bi bô tập nói bằng cả tiếng Kinh lẫn tiếng Mông. Hạnh phúc đang tràn ngập thì Nguyễn Văn Hứ lại phải xa gia đình nhận nhiệm vụ mới. Vì có kinh nghiệm tiễu phỉ và thông thạo tiếng Mông, Huyện đội trưởng Nguyễn Văn Hứ được Quân khu Tây Bắc điều động về Trung đoàn I, Sư đoàn 316, sang Thượng Lào, giúp bạn tiễu phỉ. Suốt 4 năm, tiễu phỉ trên đất bạn từ Pa Thí, Sầm Nưa, đến Huổi Mạ, Phong Sa Lì, Nguyễn Văn Hứ đã góp phần vào công sức chung của quân tình nguyện Việt Nam bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân các bộ tộc Lào. Cuối năm 1964, việc tiễu phỉ ở Thượng Lào hoàn tất, Nguyễn Văn Hứ về nước, tiếp tục được cử làm Huyện đội trưởng Mù Cang Chải cho đến năm 1976 được nghỉ chế độ. Nhưng vừa hưu trong quân đội thì Huyện uỷ lại giao cho ông làm Bí thư Chi bộ, kiêm Tổ trưởng tổ hưu thị trấn. Năm 1991, Đại hội Hội Cựu chiến binh Mù Cang Chải lần thứ nhất, Nguyễn Văn Hứ được bầu làm Chủ tịch Hội. Ông lại cùng các Cựu chiến binh xây dựng Hội Cựu chiến binh huyện và Hôi Cựu chiến binh 13 xã, thị trấn thành lực lượng nòng cốt trong các hoạt động kinh tế- chính trị, văn hoá- xã hội, an ninh –quốc phòng của địa phương. Đặc biệt là thực hiện chủ trương chống tái trồng cây thuốc phiện và cai nghiện cho người nghiện hút. Hội Cựu chiến binh huyện trực tiếp đảm nhiệm, tổ chức cai nghiện thành công cho những người nghiện hút tại hai xã Nậm Có và Hồ Bốn vốn là những điểm nóng về nghiện hút. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hội Nguyễn Văn Hứ, Hội CCB Mù Cang Chải cũng hết sức quan tâm tới giúp hội viên phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà dột nát và phát huy nghĩa tình đồng đội. Tuy tuổi cao, sức khỏe không còn được như xưa nhưng bàn chân người Chủ tịch Hội CCB Nguyễn Văn Hứ vẫn in dấu trên 116 bản của Mù Cang Chải, vẫn thông thuộc tên tuổi, thân thiết với từng các bộ xã, từng già làng, trưởng bản, từng hội viên CCB cả những người trước đây lầm đường theo phỉ được ông gọi về. Nhờ sự giúp đỡ, tư vấn của ông mà nhiều hội viên CCB đã biết phát triển kinh tế, trở nên khá giả, giúp đỡ được cho nhiều đồng đội và nhân dân. Tiêu biểu các CCB Sùng A Lu, Giàng A Chinh xã Lao Chải, Lý A Chống xã Khau Mang, Cứ A Trừ xã Hồ Bốn, Sùng A Chư ở xã Cao Phạ, Thào Khua Kỷ ở xã Púng Luông, Sùng A Cớ, Lù Khua Kỷ xã Nậm Có… Ngoài công tác Hội Cựu chiến binh, Nguyễn Văn Hứ còn tham gia hoạt động Hội Người cao tuổi, Hội Nông dân và các công tác An ninh, Dân vận, Mặt trận Tổ quốc, Dân số- kế hoạch hoá gia đình… Công tác nào, ông cũng nhiệt huyết, tận tâm và hoàn thành xuất sắc. Có thể nói, suốt đời mình, Nguyễn Văn Hứ gắn bó với nhân dân, với núi rừng Mù Cang Chải. Nhiều người đến Mù Cang Chải theo nghĩa vụ, chờ ngày ra đi, còn Nguyenx Văn Hứ thì như cánh chim Đại Bàng mãi gắn bó với đại ngàn. Hỏi sao ông có thể làm được nhiều việc thế mà việc nào cũng thành công, ông cười rất tươi rồi bảo: Vì tôi là bộ đội Cụ Hồ, của quân đội nhân dân. Đảng, Quân đội giao việc gì, dù khó khăn, gian khổ, nguy hiểm đến đâu thì bộ đội Cụ Hồ cũng không chối từ, mà đã làm là phải tận tâm, tận lực, đến nơi đến chốn dẫu có phải hy sinh thân mình chú ạ.

Tôi nhìn lên những phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước, Quân đội, các bộ, ngành, tỉnh, huyện đã tặng ông, được treo kín hai bức tường nhà: 3 Huân chương Chiến sỹ vẻ vang, 2 Huân chương Kháng chiến, 1 Huân chương Chiến công, 1 Huân chương Lao động, các Kỉ niệm chương của Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Nông dân, Ban Dân vận, Bộ Công an, Bộ Y tế, các Huy hiệu 30 năm, 40 năm, 50 năm, 60 năm tuổi Đảng; và rất nhiều Bằng khen, Giấy khen của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh Yên Bái, huyện Mù Cang Chải tặng. Tôi lại nhìn lên tấm ảnh vợ ông, bà Cứ Thị Mỷ trên bàn thờ, người phụ nữ Mông có khuôn mặt phúc hậu, nụ cười hồn nhiên, chân chất suốt ba mươi năm tần tảo nuôi dạy 10 người con trưởng thành cho chồng yên tâm làm việc quân, việc nước. Tôi chợt nghĩ, dù đã đi xa nhưng chắc chắn bà vô cùng mãn nguyện khi đã chọn ông, anh bộ đội Cụ Hồ, người lính của Đại đội 96 năm xưa làm chồng và ông chắc cũng yêu nhớ bà lắm, khi nhắc tới bà tôi thấy ông cứ rơm rớm nước mắt. Tôi cợt hiểu vì sao ông lại gắn bó sâu nặng, thủy chung với Mù Cang Chải đến thế, và vì sao người Mù Cang Chải lại yêu quý, kính trọng ông đến thế. Một điều thật giản dị nhưng không phải ai cũng có thể được, đó chính là trái tim ông, cuộc sống của ông là trái tim và cuộc sống của anh bộ đội Cụ Hồ.

Giờ thì ông cũng đã đi về cõi vĩnh hằng cùng người vợ thân yêu Cứ Thị Mỷ. Song cuộc đời ông, 65 năm gắn bó với đất và người Mù Cang Chải sẽ còn sống mãi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn