NGUYỄN VĂN HÙNG - TIẾNG CÒI TÀU TRÊN BẾN THỦ ĐỨC VÀ KÝ ỨC CỬA PHÙM
Họ và tên đầy đủ: Nguyễn Văn Hùng * *Năm sinh:* 1952 * *Phân loại Nhân chứng:* Cựu Chiến binh (Chiến sĩ Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4) * *Quê quán:* Xã Quảng Giao, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa * *Nơi ở hiện tại:* Phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
Mùa thu năm 1970, đất nước đang ở vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Khi đó, Nguyễn Văn Hùng vừa tròn 18 tuổi, mới hoàn thành chương trình trung học phổ thông tại vùng quê ven biển Quảng Xương, Thanh Hóa.
Trong cái nắng hanh vàng của tháng Tám, tiếng loa phóng thanh của xã vang lên liên tục những bản hùng ca thúc giục thanh niên lên đường nhập ngũ. Cũng như bao lớp thanh niên ngày ấy, Hùng gạt đi những dự định tương lai, giấu mẹ lá thư trúng tuyển Đại học Sư phạm Hà Nội để viết đơn bằng máu xin ra chiến trường.
Lễ giao quân năm đó rộn rã tiếng trống hội, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió biển. Mẹ ông – người phụ nữ gầy gộc cả đời tảo tần bên ruộng đồng – chỉ kịp dúi vào tay con trai chiếc khăn tay thêu hình bông lúa và gói muối vừng. Bà không khóc, chỉ dặn ngắn gọn: "Đi chân cứng đá mềm, xong việc nước rồi về với mẹ."
Sau ba tháng huấn luyện gắt gao tại vùng núi Tân Lạc (Hòa Bình) với những bài tập đeo gạch leo dốc, hành quân đêm mang vất nặng, chàng tân binh Nguyễn Văn Hùng cùng đồng đội chính thức bước vào chặng đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.
Trường Sơn mùa mưa năm 1971 là một thử thách khủng khiếp đối với những chàng trai mười tám, đôi mươi lần đầu xa nhà. Những cơn mưa rừng dai dẳng kéo dài hàng tuần làm đất đá sạt lở, con đường hành quân biến thành những vũng bùn lầy thụt đến đầu gối.
Binh trạm 33 – nơi trung đoàn của Hùng dừng chân – thường xuyên phải hứng chịu những đợt oanh kích tọa độ của máy bay B-52. Đêm 15 tháng 4 năm 1972, đơn vị của Hùng nhận lệnh vượt trọng điểm Cửa Phùm (quảng Bình) – nơi được mệnh danh là "túi bom" của Binh trạm. Mặt đất bị cày xới không còn một cọng cỏ, mùi thuốc súng nồng nặc hòa lẫn mùi đất khét lẹt. Máy bay C-130 bắn pháo sáng rực một góc trời, soi rõ từng vệt bùn trên vai áo chiến sĩ. Lúc này, Hùng là tiểu đội trưởng tiểu đội trinh sát.
Nhiệm vụ của tiểu đội là phải mở đường qua vạt nương cháy để đại đội xe chở đạn vượt qua trước khi trời sáng. Cùng đi với Hùng có Trung – người bạn thân cùng quê Thanh Hóa. Hai người chung nhau một chiếc võng, chia nhau từng củ sắn lùi hôi khói. Khi cả đội đang tích cực gạt mìn, phát quang lối đi thì tiếng gầm rít của phản lực F-4 bất ngờ lao tới. Một loạt bom chùm trút xuống. Hùng chỉ kịp hô: "Nằm xuống!" rồi đẩy Trung vào một hố bom cũ. Tiếng nổ chát chúa vang lên, đất đá văng rát mặt, tai Hùng ù đi, không còn nghe thấy bất cứ âm thanh nào ngoài tiếng đập liên hồi của lồng ngực. Khi khói bom tan, Hùng bò dậy trong sự bàng hoàng. Chiếc hố bom nơi Trung nằm đã bị đè lấp bởi một khối đất đá lớn. Hùng bới đất bằng hai bàn tay rớm máu, gọi tên bạn trong vô vọng.
Khi tìm thấy Trung, người bạn thân đã trút hơi thở cuối cùng, tay vẫn nắm chặt chiếc còi đồng – vật kỷ niệm mà người yêu gửi tặng trước ngày lên đường. Sự hy sinh của Trung và những đồng đội trên đường Trường Sơn đã găm vào tâm khảm Nguyễn Văn Hùng một vết thương sâu sắc, nhưng cũng chính vết thương ấy đã biến thành ngọn lửa căm thù, tiếp thêm sức mạnh cho ông trong suốt những năm tháng chiến đấu sau này.
Đầu năm 1973, đơn vị của Hùng được bổ sung cho Sư đoàn 9 – Sư đoàn Cường phong nổi tiếng của Quân giải phóng miền Nam, trực tiếp chiến đấu tại địa bàn Tây Ninh, Bình Dương và Gia Định. Chiến trường Nam Bộ với địa hình sông rạch chằng chịt và hệ thống đồn bốt dày đặc của địch đòi hỏi lối đánh áp sát, bất ngờ và dũng cảm.
Trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long cuối năm 1974, Nguyễn Văn Hùng cùng đồng đội đã tham gia hàng chục trận đánh lớn nhỏ. Ông đã trực tiếp dùng súng B-40 bắn cháy 2 xe thiết giáp M-113 của địch tại căn cứ Đồng Xoài, mở đường cho quân ta tiến tiến công. Tuy nhiên, ký ức sâu sắc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của người cựu chiến binh này lại gắn liền với những ngày tháng Tư lịch sử năm 1975, khi Sư đoàn 9 đảm nhận hướng tiến công phía Tây Nam Sài Gòn.
Ngày 28 tháng 4 năm 1975, đơn vị của Hùng đánh chiếm cầu Rạch Tra, mở cánh cửa thép phía Tây Bắc để lực lượng đột kích tiến vào nội đô. Địch chống trả dữ dội bằng hỏa lực từ các lô lô cốt cố thủ và tàu chiến trên sông. Trong lúc vượt sông, chiếc thuyền đuôi tôm của tiểu đội Hùng bị trúng đạn pháo.
Hùng bị thương ở đùi trái, máu chảy đỏ cả vùng nước sông lầy lội. Không rời trận địa, ông tự dùng băng cá nhân siết chặt vết thương, tiếp tục cầm súng AK bắn kiềm chế hỏa lực địch trên bờ cho đồng đội bơi sang. Đến sáng ngày 29 tháng 4, tuyến phòng thủ Rạch Tra của địch hoàn toàn vỡ vụn. Đoàn xe bọc thép và bộ binh của ta rầm rộ vượt cầu tiến về hướng Biệt khu Thủ đô.
Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi lá cờ giải phóng tung bay trên Dinh Độc Lập, Nguyễn Văn Hùng cùng đồng đội đang có mặt tại khu vực Ngã tư Hàng Xanh. Ký ức về giờ phút ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí ông: "Thành phố vỡ ùa trong biển người và cờ hoa. Người dân ôm lấy chúng tôi khóc nức nở. Lúc đó, tôi gục đầu vào vai một đồng chí cán bộ lão thành mà khóc. Khóc vì sung sướng, nhưng khóc nhiều hơn vì nhớ đến Trung, nhớ đến những đồng đội đã nằm lại ở Trường Sơn, ở Rạch Tra mà không kịp nhìn thấy ngày chiến thắng."
Sau ngày hòa bình, ông Hùng xuất ngũ với tỷ lệ thương tật 31%. Ông quyết định lập nghiệp tại vùng đất Hiệp Bình Phước (nay thuộc thành phố Thủ Đức) – nơi năm xưa ông từng cùng đồng đội dừng chân trước giờ tiến công vào thành phố. Từ hai bàn tay trắng và đôi chân còn mang thương tích mỗi khi thời tiết thay đổi, ông Hùng đã nỗ lực vươn lên trong lao động sản xuất.
Ông tích cực tham gia công tác Hội Cựu chiến binh phường, nhiều năm liền làm Trưởng ban Bối tế, tận tụy chăm lo cho các gia đình chính sách, thương binh, liệt sĩ trên địa bàn. Không những thế, ông còn là một "báo cáo viên" quen thuộc của Đoàn Thanh niên phường Hiệp Bình Phước trong các buổi sinh hoạt truyền thống. Nhìn người cựu chiến binh già với mái tóc bạc phơ, ánh mắt rực sáng khi kể về những trận đánh, về tình đồng chí đồng đội gắn bó gắt gao trong lửa đạn, các thế hệ đoàn viên, thanh niên trẻ hôm nay đều cảm nhận được cái "thần", cái "lửa" của một thời vang bóng.
Ông Hùng thường nói với giới trẻ: "Sự sống hôm nay được đổi bằng máu xương của bao thế hệ đi trước. Bác chỉ mong các cháu thanh niên bây giờ biết quý trọng hòa bình, học tập và rèn luyện thật tốt để xây dựng quê hương, sao cho xứng đáng với những người đã ngã xuống."
Câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Văn Hùng không chỉ là tài liệu lịch sử sống động về một thời "hoa lửa", mà còn là tấm gương sáng về phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" – tàn nhưng không phế, luôn giữ vững khí tiết và ngọn lửa nhiệt huyết để truyền lại cho thế hệ mai sau.


