Nguyễn Văn Lâm – Thanh Niên Xuân Trường Kiên Trì Nuôi Quân Thời Kháng Chiến
Nguyễn Văn Lâm sinh năm 1930 tại một làng ven sông thuộc vùng Xuân Trường, tỉnh Nam Định (khu vực giáp ranh với Thái Bình, nơi nổi tiếng với truyền thống yêu nước và sản xuất lúa gạo), trong một gia đình nông dân nghèo nhưng thật thà, chất phác, từ nhỏ Lâm đã quen với công việc đồng áng, chăm chỉ phụ giúp cha mẹ cấy lúa, nuôi gà, nuôi lợn và học cách tiết kiệm từng nắm thóc, đến khi đất nước bước vào giai đoạn khói lửa của Toàn quốc kháng chiến 1946, chàng trai mười sáu tuổi ấy chưa đủ tuổi cầm súng nhưng lại sớm được giao nhiệm vụ tham gia đội hậu cần của làng, chuyên lo việc nuôi quân, giấu lương thực và tổ chức bếp ăn cho bộ đội địa phương, với tính cách thật thà và cẩn trọng, Lâm luôn ghi nhớ từng bao thóc, từng chum gạo, không để thất thoát dù chỉ một đấu nhỏ, những năm 1949–1952 khi quân Pháp thường xuyên càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhiều lần làng bị đốt phá, Lâm cùng bà con phải đào hầm bí mật dưới chuồng trâu, dưới bờ tre để giấu thóc nuôi quân, ban ngày anh giả làm người nông dân bình thường ra đồng cấy lúa, ban đêm lại cùng tổ hậu cần nấu cơm, rang muối, chuẩn bị bánh chưng, bánh nắm để chuyển cho bộ đội hành quân qua làng, có lần giữa mùa đông rét buốt năm 1951, khi đoàn dân công gánh gạo từ Xuân Trường lên tuyến trên gặp mưa lớn và nước sông dâng cao, Lâm đã dũng cảm chèo thuyền nhỏ vượt qua dòng nước xiết suốt nhiều giờ liền để kịp chuyển số gạo cần thiết cho đơn vị bộ đội đang thiếu lương thực, nhờ sự tận tụy của những người làm hậu cần như anh mà lực lượng kháng chiến có đủ sức bền bỉ chiến đấu, đến năm 1953–1954, khi cả nước dồn sức cho Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, Lâm cùng đội nuôi quân của địa phương đã huy động toàn bộ lương thực dự trữ, vận chuyển hàng chục chuyến gạo, muối và thực phẩm khô ra các điểm tập kết, dù không trực tiếp cầm súng ngoài mặt trận nhưng anh luôn tự hào vì công việc thầm lặng của mình đã góp phần vào thắng lợi chung, sau ngày hòa bình lập lại năm 1954, Nguyễn Văn Lâm tiếp tục ở lại quê hương, tham gia xây dựng hợp tác xã nông nghiệp và truyền lại cho lớp thanh niên sau này tinh thần thật thà, chăm chỉ và trách nhiệm với hậu phương, trở thành tấm gương tiêu biểu của người thanh niên vùng Xuân Trường trong thời kháng chiến — một con người bình dị nhưng bền bỉ, luôn đặt lợi ích của bộ đội và Tổ quốc lên trên bản thân, góp phần làm nên sức mạnh vững chắc của hậu phương trong những năm tháng lịch sử gian khổ mà hào hùng của dân tộc Việt Nam.


