Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Văn Lân — người cải tiến hơn 200 quả đạn CS rồi mở tám lớp rào Bù Bông

Nguyễn Văn Lân từng thu gom chất CS để cải tiến hơn 200 quả đạn cối 82 mm; rạng sáng 4-11-1973, ông chỉ huy đặc công vượt tám lớp rào yếu khu Bù Bông, tiêu diệt và bắt hơn 700 quân đối phương.

Vĩnh Long26/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đến 3 giờ sáng ngày 4 tháng 11 năm 1973, lực lượng đặc công do Nguyễn Văn Lân chỉ huy đã nằm bên trong yếu khu Bù Bông, huyện Tuy Đức, sau khi vượt tám lớp hàng rào và hệ thống vật cản. Trên ngọn đồi trọc là sở chỉ huy hành quân cấp chiến đoàn, ban chỉ huy tiền phương Tiểu khu Quảng Đức, nhiều đại đội bộ binh cùng pháo binh, công binh, thông tin. Một quả bộc phá phát lệnh, các tổ đồng loạt dùng thủ pháo, bộc phá đánh hầm và sở chỉ huy. Trận đánh tiêu diệt, bắt sống hơn 700 quân đối phương, thu nhiều vũ khí và mở đường để bộ binh làm chủ hoàn toàn yếu khu. Bù Bông là trận then chốt của chiến dịch Tây Quảng Đức, góp phần nối hành lang Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Đối với Nguyễn Văn Lân, đó là một trong 23 trận ông trực tiếp tham gia trên các cương vị chỉ huy; trước khi trở thành người mở tám lớp rào, ông từng thực hiện một nhiệm vụ khác thường: thu gom chất CS đối phương rải xuống rừng rồi cải tiến thành hơn 200 quả đạn cối 82 milimét.

Nguyễn Văn Lân sinh năm 1938 tại Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội, nhập ngũ tháng 2 năm 1960 và vào Đảng năm 1966. Trong giai đoạn 1964–1968 ở miền Đông Nam Bộ, quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng chất CS nhằm làm giảm sức chiến đấu, buộc lực lượng cách mạng rời hầm và khu vực trú quân. CS gây cay mắt, khó thở, chóng mặt; nồng độ cao trong không gian kín có thể làm người tiếp xúc mất khả năng hoạt động. Bộ tư lệnh Miền yêu cầu Phòng Hóa học nghiên cứu cách phòng chống và tận dụng chính lượng chất thu được. Đặng Quân Thụy, Trưởng phòng Hóa học Bộ Tham mưu Miền, giao Nguyễn Văn Lân theo dõi tình hình sử dụng CS toàn chiến trường, hướng dẫn đơn vị bảo vệ người, đồng thời tìm phương pháp đưa chất ấy trở lại mục tiêu quân sự của đối phương.

Lân bám các khu rừng vừa bị rải CS, mặc áo mưa, đeo khẩu trang, che kín da rồi dùng túi ni-lông thu chất còn lại mang về thùng chứa. Trang bị bảo hộ thô sơ không ngăn được hơi độc; có lần ông chóng mặt, ngất ngay trong lúc làm. Khi còn đủ tỉnh táo, Lân cố bò ra xa vùng nồng độ cao; lúc khác đồng đội phải cõng ra bãi cỏ chờ hồi phục. Ông tháo bớt thuốc nổ trong đạn cối 82 mm, thêm lượng CS được tính toán rồi lắp lại để đạn vẫn bay, phát tán ở mục tiêu mà không nổ ngay trong nòng. Công việc đòi hỏi cân bằng khối lượng và giữ cơ cấu an toàn của quả đạn, trong điều kiện không có phòng thí nghiệm hoàn chỉnh. Sau nhiều lần thử, ông cùng bộ phận kỹ thuật cải tiến được hơn 200 quả, kịp cung cấp cho các đơn vị chiến đấu.

Khi đạn cải tiến được sử dụng, đối phương bất ngờ vì chính chất họ dùng để ép quân ta rời trận địa lại xuất hiện trong căn cứ của mình. Tác dụng không chỉ là gây rối một vài vị trí; nó làm giảm ưu thế tâm lý và buộc phía sử dụng CS phải tính đến nguy cơ bị đáp trả. Đài phát thanh đối phương từng thông báo rằng lực lượng cách mạng đã dùng thành công CS đánh quân Mỹ và quân đội Sài Gòn; sau đó việc dùng chất này ở một số địa bàn miền Đông tạm giảm. Nguyễn Văn Lân được công nhận Chiến sĩ thi đua. Nhưng thành tích kỹ thuật không đưa ông rời chiến trường. Năm 1969, ông giữ chức Phó tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 14, Lữ đoàn Đặc công 429, tiếp tục huấn luyện và chỉ huy các mũi luồn sâu. Kinh nghiệm làm việc với chất độc rèn cho ông thói quen chuẩn bị chi tiết, hiểu rằng một sai số nhỏ có thể gây thương vong cho chính đồng đội.

Tháng 10 năm 1973, nhiệm vụ đánh Bù Bông được giao cho đơn vị. Yếu khu nằm trên địa hình trống, dễ quan sát từ xa và có tám lớp rào, công sự kiên cố. Đặc công phải trinh sát đường vào, đo khoảng cách giữa các lớp vật cản, nhận ra vị trí mìn, lối tuần tra và hướng bố trí hầm chỉ huy. Mỗi chiến sĩ mang bộc phá, thủ pháo và dụng cụ mở cửa, nhưng tải trọng phải đủ nhẹ để bò qua quãng dài. Lân tổ chức đội hình thành những mũi nhỏ, quy định mục tiêu, giờ nổ và phương án xử lý nếu một cửa mở chậm. Đêm tiến công, họ áp sát từng lớp mà không để lính gác phát hiện, giữ thời gian đến 3 giờ sáng mới đồng loạt hành động. Yếu tố bất ngờ khiến lực lượng đông bên trong không kịp triển khai đầy đủ hỏa lực.

Sau Bù Bông, Nguyễn Văn Lân được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba. Tháng 1 năm 1975, trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 78, ông chỉ huy đánh Bù Na ở Phước Long, tiêu diệt hơn 300 quân đối phương, làm chủ trận địa và giải phóng hơn 20 kilômét Quốc lộ 14 từ Đồng Xoài đến Bù Đăng, góp phần vào thắng lợi Phước Long ngày 6 tháng 1. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, với vị trí Phó tham mưu trưởng Trung đoàn 429, ông tham gia chỉ huy chiến đấu bốn ngày đêm ở hướng nam Sài Gòn, đánh các mục tiêu tại Quận 8. Tính trong 28 năm quân ngũ, Lân tham gia sáu chiến dịch lớn: Junction City năm 1967, Mậu Thân 1968, Nguyễn Huệ 1972, Nam Tây Nguyên 1973, Phước Long 1974–1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 1988, Nguyễn Văn Lân rời quân ngũ, sống tại phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Hậu quả chiến tranh không dừng khi ông cởi quân phục: do nhiều năm chiến đấu ở vùng nhiễm chất hóa học, hai người con sinh ra đều chịu di chứng, đôi chân dị dạng và phải nhờ hỗ trợ phẫu thuật. Gia đình khó khăn nhưng ông vẫn làm Bí thư Chi bộ khu phố trong 10 năm và hơn 20 năm là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường. Ông tự đóng góp 18 triệu đồng, vận động dân nâng cấp hẻm và mỗi năm tìm hơn 100 suất quà cho đồng đội nghèo. Người từng chỉ huy luồn sâu vào căn cứ chuyển kinh nghiệm tổ chức sang việc rất đời thường: tìm từng hộ cần giúp, thuyết phục từng người góp sức và giữ lòng tin trong cộng đồng.

Nguyễn Văn Lân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi đã cao tuổi. Câu chuyện của ông đặc biệt ở hai loại sáng tạo tưởng khác nhau: cải tiến đạn trong rừng và tổ chức đặc công vượt tám lớp rào. Điểm chung là lấy đúng khó khăn đối phương tạo ra làm cơ sở tìm cách khắc phục. CS được thu gom để đối phương không còn độc quyền sử dụng; hệ thống rào dày được nghiên cứu thành từng lớp có thể mở; những năm hậu chiến đầy di chứng được đáp lại bằng hoạt động giúp đồng đội. Các con số hơn 200 quả đạn, hơn 700 người ở Bù Bông, hơn 300 ở Bù Na, 20 kilômét Quốc lộ 14 và 23 trận trực tiếp tham gia làm thành tích có thể đối chiếu. Nhưng phẩm chất bền nhất của Nguyễn Văn Lân là không chấp nhận đứng yên trước thứ gây tổn thương: ông quan sát, thử nghiệm, tổ chức con người và tìm một con đường đi qua.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn