Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Văn Lạp

Nguyễn Văn Lập (1927 - 25 tháng 6 năm 2021), tên khai sinh Kostas Sarantidis (tiếng Hy Lạp: Κώστας Σαραντίδης), là một chiến sĩ người Hy Lạp–Việt Nam. Ông là người nước ngoài duy nhất từ trước tới nay được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân của Việt Nam. Ông là chiến sĩ "Việt Nam mới", người Hy Lạp duy nhất từng hoạt động trong lực lượng Việt Minh thời chiến tranh Đông Dương. Sau 1954, ông từng bị khai trừ khỏi Đảng Lao động Việt Nam vì không chấp nhận tái hôn với vợ cũ.[

Vĩnh Long19/04/2026Xã đoàn Long Thành (Xã đoàn Long Thành)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đơn vị ông được tàu chiến đưa đến Sài Gòn rồi sau đó lên xe lửa đi ra miền Trung. Ngay những ngày đầu đến Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều hành động tàn ác của quân Pháp đối với người dân bản xứ, ông nhận ra quân Pháp chỉ là kẻ xâm lược nên nảy sinh ý định đào ngũ sang lực lượng Việt Minh. Ông kể lại: "Chúng tôi không tham gia vào nhiều trận đánh ở miền Nam. Các binh sĩ được lệnh đi càn và đốt phá để chứng tỏ bản thân mình cứng rắn... Tôi muốn bỏ hàng ngũ vì không thể chịu đựng thêm nữa khi ngày cuối cùng tại đơn vị, tôi tận mắt chứng kiến cả trung đội hãm hiếp một thiếu nữ 14-15 tuổi"[4]

Đóng quân Bình Hòa, Mũi Né, Bình Thuận, người trực tiếp giúp Kostas Sarantidis về với Việt Minh là nữ tình báo Mai Lê. Bố mẹ Mai Lê là những người yêu nước, tham gia kháng chiến và đã hy sinh. Mặc dù còn rất trẻ, nhưng Mai Lê và một số bạn học đã rời thành phố, tham gia kháng chiến. Kostas Sarantidis gặp Mai Lê khi cô đang là vợ của thiếu úy Christianis - một đồn trưởng tại Phan Thiết. Ông đã được Mai Lê móc nối với cơ sở của Việt Minh (sau đó, nữ tình báo này bị lộ và bị giặc hành quyết vào tháng 7 năm 1946). Sự hy sinh thầm lặng của Mai Lê khiến Kostas Sarantidis khâm phục.[5]

Khi thời cơ đến, vào lúc 2 giờ sáng ngày 6 tháng 4 năm 1946, ông đào ngũ khỏi đội quân lê dương Pháp để ra vùng tự do ở Bình Thuận, rủ thêm một lính lê dương khác là Santo Merinos (quê ở Tây Ban Nha) cùng đi. Ông còn giải thoát cho 25 người tù khác [6] ,mang theo một khẩu súng máy Bren và hai khẩu súng trường, hai hộp lựu đạn và một thùng đạn. Tại khu kháng chiến, lực lượng Việt Minh mà ông gặp chỉ có trang bị rất thiếu thốn: ba khẩu súng hỏa mai của Pháp với độ dài khác nhau, các sĩ quan đeo súng ngắn, một số chiến sĩ mang theo dao, kiếm hoặc dùng súng ngắn rất cũ. Ông đã tặng lại số súng đạn mang theo, các chiến sĩ Việt Nam rất vui mừng vì có vũ khí kiểu mới nên đã giết thịt một con bê để chiêu đãi.[4]

Ông được đặt tên Việt Nam là Nguyễn Văn Lập và chính thức gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, là một trong những chiến sĩ "Việt Nam mới".[7], còn người bạn Santo Merinos đi cùng ông được đặt tên là Nguyễn Văn Vĩ (sau này hi sinh năm 1951 tại chiến trường Lào)[8]

Giai đoạn những năm 1946-1948, điều kiện sống hết sức khắc nghiệt.Ông kể: "Chúng tôi được cấp khẩu phần ăn 800 g mỗi ngày. Nếu mua được rau thì tốt, còn không chúng tôi cố gắng tìm thứ mang tên rau tàu bay. Đó là nguồn cung lương thực duy nhất cho toàn quân". Khẩu hiệu kháng chiến của Việt Nam tương đồng với người Hy Lạp, đó là "Tự do hay là chết"[4]

Khi tham gia Việt Minh, ông hoạt động trong các đơn vị chính quy Khu 5.[9] Ở chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, ông được giao công tác địch vận, phát thanh vào đồn quân Pháp, gọi hàng được 40 lính lê dương bỏ hàng ngũ của Pháp và cứu sống được 120 người bị địch bắt.[3] Ông cũng từng cùng đồng đội bắn rơi 1 máy bay Morane-Saulnier và bắt sống 3 phi công Pháp ở gần ga Phú Cang (Quảng Nam). Ngày 13 tháng 4 năm 1948, đơn vị ông chống càn tại Hương An - Bà Rén, tiêu diệt 200 quân đối phương.[3]

Nguyễn Văn Lập cũng từng làm tổng giám thị trại tù binh Âu Phi số 3 ở Quảng Ngãi, ông đã làm tốt công tác giáo dục, làm cho họ hiểu rõ chính nghĩa của Việt Nam chống xâm lược, và chính sách nhân đạo của chính phủ kháng chiến.[7]

Năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Cấp bậc cao nhất của ông là đại úy.

Tại miền Bắc Việt Nam sau 1954

Sau Hiệp định Genève, 1954 ông tập kết ra Bắc và tiếp tục hoạt động cách mạng.

Ông gặp người vợ người Việt đầu tiên trong lúc phục vụ trong quân đội. Sau 1954, vợ ông bị vu oan là phản động và bị bắt giam. Để khỏi bị liên lụy, ông từ bỏ người vợ này.[1]

Sau khi giải ngũ, ông làm phiên dịch cho chuyên gia Cộng hoà Dân chủ Đức ở Nhà máy in Tiến Bộ.[1] Tại đây, ông quen biết và lấy vợ thứ hai là người Hà Nội.[9] Sau đó người vợ thứ nhất của ông được tuyên trắng án và được thả tự do, bà khiếu nại việc bị chồng bỏ. Chính quyền cho phép ông được đa thê nhưng ông từ chối, nên ông bị khai trừ ra khỏi Đảng Lao động.[1] Sau đó vợ thứ hai của ông sinh ra ba đứa con tại miền Bắc Việt Nam và 1 con nữa ở Hy Lạp.[1]

Ông từng lái xe tải ở các mỏ than Na Dương, mỏ thiếc Cao Bằng và nhiều lần đi đóng các vai Pháp, Mỹ trong một số bộ phim truyện Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn