Nguyễn Văn Lập — người lính Hy Lạp chọn Việt Nam làm quê hương
Từ một lính lê dương đến Việt Nam năm 1946, Kostas Sarantidis rời bỏ quân đội Pháp, gia nhập Việt Minh với tên Nguyễn Văn Lập và dành phần đời còn lại vun đắp tình hữu nghị Việt Nam–Hy Lạp.
Năm 1946, Kostas Sarantidis đặt chân đến Đông Dương trong hàng ngũ lính lê dương Pháp. Chàng trai Hy Lạp sinh năm 1927 mới mười chín tuổi, đã đi qua những biến động dữ dội của châu Âu và chưa hiểu nhiều về đất nước mình sắp tham chiến. Nhưng khi tận mắt chứng kiến cảnh quân đội thực dân đối xử với người dân, Kostas nhận ra cuộc chiến này không giống những lời tuyển mộ. Những người Việt Nam mà ông được lệnh chống lại đang bảo vệ làng xóm và quyền tự quyết của chính họ. Sự giằng co lương tâm nhanh chóng trở thành một lựa chọn dứt khoát: ông rời bỏ quân đội Pháp, tìm đường sang phía Việt Minh.
Gia nhập lực lượng kháng chiến ở Liên khu 5, Kostas được đồng đội đặt tên Nguyễn Văn Lập. Cái tên mới không chỉ giúp hoạt động thuận lợi mà đánh dấu sự thay đổi căn bản về căn cước tinh thần. Ông học tiếng Việt trong sinh hoạt hằng ngày, ăn cơm cùng đơn vị, hành quân trên những con đường miền Trung và làm quen với khí hậu hoàn toàn khác quê hương Địa Trung Hải. Đồng đội gọi tiểu đoàn nơi ông chiến đấu là “Tiểu đoàn Lá Mít”. Trong đội hình ấy có Trung đoàn 803 và Trung đoàn 108, những đơn vị gắn với vùng Quảng Nam–Quảng Ngãi và nhiều trận đánh gian khổ thời chống Pháp.
Nguyễn Văn Lập từng tham gia chiến đấu, làm công tác vận tải và tùy nhiệm vụ mà sử dụng những kỹ năng tích lũy trong quân ngũ. Khác biệt ngôn ngữ ban đầu có thể gây hiểu lầm, nhưng sự dũng cảm và tinh thần chia sẻ khiến ông nhanh chóng được tin cậy. Khi đơn vị thiếu lương thực, ông chịu khẩu phần như mọi người; khi hành quân qua vùng bị càn quét, ông tuân thủ kỷ luật giữ bí mật. Điều khiến đồng đội nhớ nhất không phải màu tóc hay gương mặt châu Âu, mà là thái độ coi Việt Nam như cuộc chiến của chính mình. Ông không đứng ngoài để quan sát một dân tộc khác giành độc lập; ông đặt sinh mạng vào cùng đội hình.
Trong chiến tranh, việc một người lính lê dương đào ngũ mang nhiều rủi ro. Nếu bị bắt, Kostas có thể bị xử lý như kẻ phản bội; nếu phía kháng chiến không tin, ông cũng khó tìm nơi nương tựa. Sự lựa chọn ấy vì vậy cần nhiều hơn lòng thương cảm nhất thời. Ông phải chứng minh qua công việc, qua từng lần nhận nhiệm vụ và qua năm tháng gắn bó. Nguyễn Văn Lập dần trở thành cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, mang quân hàm Đại úy. Bộ quân phục ấy được ông giữ gìn suốt những năm sau này như vật chứng cho quãng đời quan trọng nhất.
Sau hòa bình ở miền Bắc, ông lập gia đình với một phụ nữ Việt Nam. Về sau cả gia đình sang Hy Lạp sinh sống, nhưng mối liên hệ với Việt Nam không hề đứt. Khi xem truyền hình đưa tin miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, ông bật khóc và tìm đọc tất cả báo có tin về Việt Nam. Ông tích cực tham gia hoạt động hữu nghị, đề nghị dùng tên Hội Hữu nghị Hy Lạp–Việt Nam để bất cứ người Hy Lạp yêu mến Việt Nam cũng có thể góp sức. Cách đặt tên ấy cho thấy ông không muốn tình cảm riêng chỉ dừng trong phạm vi những cựu chiến binh.
Kostas đã tám lần trở lại Việt Nam. Ông mong đủ mười lần, nhưng tuổi cao và sức yếu khiến ước nguyện không thành. Mỗi lần về, ông tìm đồng đội cũ, thăm lại miền Trung và nhắc những món ăn dân dã như bánh tổ Quảng Nam. Những cuộc gặp với Đại tá Lâm Quang Minh, Đại tá Võ Văn Minh cùng gia đình đồng đội nối tiếp tình nghĩa từ chiến trường. Chính họ về sau kiên trì tìm hồ sơ, gặp nhân chứng để chứng minh thành tích cho người bạn quốc tế đã chiến đấu bên cha anh mình.
Nhà nước Việt Nam phong tặng Nguyễn Văn Lập danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông là người nước ngoài đặc biệt hiếm hoi nhận danh hiệu ấy. Khi qua đời, ông còn bày tỏ nguyện vọng đưa tro cốt về Việt Nam. Sáng 2-8-2022, lễ tiễn đưa được tổ chức theo nghi thức Quân đội nhân dân Việt Nam tại Nhà tang lễ Quân khu 5 ở Đà Nẵng. Tro cốt người sinh ra ở Hy Lạp được an táng trên mảnh đất ông từng bảo vệ, giữa sự hiện diện của đồng đội và con cháu họ.
Cuộc đời Kostas Sarantidis–Nguyễn Văn Lập vượt khỏi câu chuyện một cá nhân đổi chiến tuyến. Ông đã lựa chọn bên nào là chính nghĩa trong thời điểm lựa chọn ấy có thể phải trả bằng mạng sống, rồi kiên trì với quyết định suốt nhiều thập niên. Từ năm 1946 đến lễ tang năm 2022 là một hành trình dài gắn hai dân tộc. Khi những người bạn già mang bánh tổ tới mộ ông, lịch sử hiện lên không còn là khái niệm ngoại giao, mà là tình đồng đội được giữ qua ba phần tư thế kỷ.


