Nguyễn Văn Linh
Ông Nguyễn Văn Linh quê ở thôn Mỹ Ngãi, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường 1, thành phố Cao Lãnh), sinh ra trong một gia đình nông dân, lễ giáo
Ông Nguyễn Văn Linh quê ở thôn Mỹ Ngãi, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường 1, thành phố Cao Lãnh), sinh ra trong một gia đình nông dân, lễ giáo.
Ngay từ nhỏ, ông đã tỏ rõ khí phách anh hùng. Trong những cuộc giao du, đàm luận với bạn bè, ông thường biểu lộ tính hiên cương, chính trực hay bênh vực kẻ yếu, thế cô. Ông thường nói với bạn hữu: “Thà chết vinh hơn sống nhục”.
Năm 22 tuổi, ông lập gia đình, cuộc sống ấm êm không làm ông xao lãng việc trau dồi văn chương, võ nghệ, chờ cơ hội giúp dân, giúp nước.
Sau khi triều đình ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862), nhường ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường cho thực dân Pháp, quân Pháp liền chiếm đóng vùng Cao Lãnh. Lập tức, ông đứng ra quy tụ thanh niên trai tráng trong vùng luyện tập võ nghệ, trang bị vũ khí tự tạo, hình thành đội nghĩa dũng, ngày đêm bí mật theo dõi hành tung của giặc, hễ có cơ hội là đánh diệt, làm cho giặc hoang mang ngay từ buổi đầu mới chiếm đóng.
Nhưng với lực lượng nhỏ, vũ khí lại thô sơ, kết quả mang lại không như ông mong muốn.
Giữa năm 1863, Thiên hộ Võ Duy Dương từ Ba Giồng (Cai Lậy) dẫn nghĩa quân về Đồng Tháp Mười xây dựng đồn lũy, lập căn cứ, truyền hịch chiêu mộ nghĩa sĩ. Ông liền đem lực lượng của mình đặt dưới quyền chỉ huy của Thiên hộ và hiến nhiều kế sách xây dựng, phát triển nghĩa quân.
Trong giai đoạn xây dựng căn cứ, ông và Đốc binh Kiều là hai bộ tướng phụ tá đắc lực của Thiên hộ Dương trong việc chiêu mộ nghĩa quân và vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến.
Nguyễn Văn Linh được giao thống lĩnh một đạo nghĩa quân phụ trách hoạt động vùng Cao Lãnh nên trong quân cũng như ngoài dân thường gọi ông là Thống Linh. Hoạt động của ông làm cho quân Pháp trong vùng mất ăn mất ngủ nhưng không sao đàn áp nổi. Để đối phó, Pháp phải sử dụng hai tay sai khét tiếng: Cai Lộc (tức Trần Bá Lộc) và nhất là Quản Khanh (tức Phạm Văn Khanh).
Một hôm, trên đường lo việc quân cơ, tiện đường ghé qua thăm gia đình, bị chúng theo dõi, phục kích bắt ông và hai người bạn chiến đấu là Thống Bình và Thống Chiêu tại thôn Phong Mỹ, đem về chợ Ông Chánh (tức chợ Mỹ Ngãi sau này) giam giữ.
Suốt ngày đêm, bọn Lộc, Khanh hết dụ dỗ đến hăm dọa nhưng không lay chuyển được ý chí sắt đá của những người anh hùng. Cuối cùng, chúng ra tay hành quyết ông cùng với Thống Bình, Thống Chiêu tại chợ Mỹ Ngãi.
Trước khi đầu lìa khỏi cổ, ông vẫn bình tĩnh ngâm hai câu thơ
“Rất tiếc thù chung chưa trả đặng
Suối sâu sủi chính để nào nguôi”.
Để tưởng nhớ công lao và khí phách của những anh hùng vì nước hy sinh, dân làng lập miếu thờ ba ông nhưng để che mắt giặc, ngôi miếu được nguỵ tạo dưới hình thức một ngôi chùa thờ Quan đế Thánh quân và nhân dân vẫn quen gọi là chùa Ba Ông.


