NGUYỄN VĂN MỐT – NGƯỜI GIỮ KHO GIỮA LỬA ĐẠN
Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Mốt (sinh năm 1941), quê xã Tân Thới Trung, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, là cán bộ thuộc Đoàn 149, Cục Hậu cần Miền. Từ hoạt động bí mật ở Sài Gòn, ông thoát ly rồi đảm nhiệm công tác quân lương, vận tải và bảo vệ kho tàng. Không chỉ có nhiều sáng kiến nâng cao năng suất vận chuyển, Nguyễn Văn Mốt còn trực tiếp chiến đấu bảo vệ căn cứ hậu cần. Đặc biệt trong các ngày 22–24/6/1966, trước cuộc tiến công của hai tiểu đoàn đối phương, ông cùng tiểu đội liên tục đánh lui nhiều đợt tiến công, bảo vệ kho và sau trận đánh tiếp tục cứu chữa kho tàng, thu nhặt tài sản. Ngày 17/9/1967, Nguyễn Văn Mốt được tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Ngày 22 tháng 6 năm 1966.
Máy bay xuất hiện trên bầu trời khu căn cứ hậu cần.
Bom đạn trút xuống khu vực kho.
Nhưng đó mới chỉ là bước mở đầu.
Sau những đợt đánh phá từ trên không, đối phương bất ngờ đổ xuống hai tiểu đoàn, nhằm đánh vào căn cứ hậu cần và phá hủy những kho lương thực, vật tư đang phục vụ chiến trường.
Những người lính làm nhiệm vụ tại đây phần lớn là cán bộ, chiến sĩ hậu cần.
Nhiều người chưa từng trải qua một trận chiến đấu lớn.
Giữa thời khắc ấy, Nguyễn Văn Mốt bình tĩnh quan sát tình hình.
Ông hiểu rằng phía sau mình không đơn thuần là những căn kho.
Ở đó là lương thực và vật chất dành cho các đơn vị đang chiến đấu.
Vì thế, kho còn thì nguồn tiếp tế cho phía trước còn.
Và bằng mọi giá, họ phải giữ kho.
Từ người thanh niên hoạt động bí mật ở Sài Gòn
Nguyễn Văn Mốt sinh năm 1941, quê xã Tân Thới Trung, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
Ông sớm tham gia hoạt động cách mạng bí mật tại Sài Gòn.
Tháng 7/1960, khi cơ sở bị lộ, tổ chức đưa ông thoát ly.
Có thời gian Nguyễn Văn Mốt bị bắt, nhưng ông tìm cách trốn thoát.
Sau đó, ông được đưa lên khu căn cứ và đến tháng 1/1961 nhập ngũ.
Công việc được giao không phải trực tiếp chiến đấu ở tuyến trước mà là:
quân lương và vận tải lương thực, thực phẩm.
Ban đầu, công việc mới khiến ông không tránh khỏi lúng túng.
Nhưng Nguyễn Văn Mốt nhanh chóng nhận ra một điều:
Muốn bộ đội chiến đấu được thì phía sau phải bảo đảm đủ lương thực và vật chất.
Từ đó, ông bắt đầu tìm mọi cách để công việc hậu cần nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Từ 30 kg lên 120 kg mỗi chuyến
Làm kho trong điều kiện chiến trường không hề đơn giản.
Nguyễn Văn Mốt chủ động chuẩn bị trước tranh, tre, lạt và cây cột. Khi có yêu cầu dựng kho, vật liệu đã sẵn sàng.
Nhờ vậy, thời gian làm kho được rút xuống chỉ còn một đến hai ngày.
Khó khăn hơn là vận chuyển.
Có thời điểm lực lượng ít nhưng mỗi đêm phải bảo đảm phục vụ từ 80 đến 100 xe.
Trời mưa khiến đường trơn lầy, mỗi người thông thường chỉ có thể vận chuyển khoảng 25–30 kg lương thực.
Nguyễn Văn Mốt tìm cách cải tiến phương pháp mang vác.
Ông còn đi tìm một tuyến đường khác:
gần hơn – khô hơn – dễ đi hơn.
Theo tư liệu, nhờ những cải tiến ấy, năng suất vận chuyển có lúc đạt tới 120 kg mỗi chuyến.
Nhưng với Nguyễn Văn Mốt, đưa hàng tới kho chưa phải đã hoàn thành nhiệm vụ.
Còn phải giữ cho từng bao lương thực không bị hư hỏng.
“Đây là tài sản của cách mạng”
Nắng cũng kiểm tra kho.
Mưa cũng kiểm tra kho.
Ông tìm cách ngăn mối mọt, chuột bọ phá hoại.
Trong suy nghĩ của Nguyễn Văn Mốt:
“Đây là tài sản của cách mạng, người giữ kho phải biết bảo vệ cho tốt, để phục vụ bộ đội được đầy đủ”.
Rồi máy bay đến đánh phá.
Bom rơi quanh kho.
Nguyễn Văn Mốt vẫn lao vào cứu tài sản.
Ông cùng đồng đội đào hào giao thông ngay tại khu vực kho để tránh những đợt oanh tạc.
Bom ngớt, họ lại lên.
Kho bị hư hỏng, họ sửa.
Hàng hóa bị ảnh hưởng, họ cứu.
Nhờ vậy, sau những trận đánh phá, kho vẫn có thể tiếp tục giao hàng cho các đơn vị.
Cho đến tháng 6 năm 1966, những người lính hậu cần phải đối mặt với một thử thách lớn hơn nhiều.
Hai tiểu đoàn tiến vào căn cứ
Sau khi máy bay đánh phá ngày 22/6, lực lượng đối phương tiến vào khu vực kho.
Nguyễn Văn Mốt lúc ấy là cán bộ chỉ huy phân đội.
Phần lớn anh em chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
Ông bình tĩnh phán đoán các hướng tiến công, dựa vào phương án đã chuẩn bị để bố trí từng tổ.
Rồi Nguyễn Văn Mốt đi tới các vị trí.
Động viên anh em.
Kiểm tra trận địa.
Nhắc mọi người bám vị trí.
Mục tiêu rất rõ:
đánh địch – giữ kho.
Ngày 23/6, trận đánh diễn ra suốt cả ngày.
Theo tư liệu, tiểu đội của Nguyễn Văn Mốt đã đánh lui 8 đợt tiến công.
Kho vẫn được giữ.
Mười một người và bốn đợt tiến công
Sang ngày 24/6, tiểu đội nhận lệnh rút.
Nhưng đúng lúc ấy, một đợt tiến công mới lại bắt đầu.
Trước tình thế đó, Nguyễn Văn Mốt động viên 11 người trong tiểu đội tiếp tục chiến đấu.
Một đợt.
Rồi đợt thứ hai.
Thứ ba.
Thứ tư.
Cả bốn đợt tiến công đều bị đánh lui.
Theo tư liệu, lực lượng của ông diệt 30 đối phương và phá hủy một khẩu đại liên.
Nhưng Nguyễn Văn Mốt vẫn chưa rời khu vực.
Đến chiều, ông cùng một tổ bí mật ở lại bám trận địa.
Họ kiên trì chờ đợi.
Khoảng cách ngày càng gần.
100 mét...
50 mét...
Rồi chỉ còn khoảng 20 mét.
Nguyễn Văn Mốt mới ra lệnh nổ súng.
Đòn đánh bất ngờ gây thiệt hại cho đối phương và buộc họ phải rút.
Trận đánh kết thúc, người lính hậu cần lại trở về với kho
Điều đáng chú ý là ngay khi đối phương rút đi, Nguyễn Văn Mốt không coi nhiệm vụ đã hoàn thành.
Ông cùng đồng đội lập tức quay lại khu vực kho.
Họ cứu chữa kho tàng và thu nhặt tài sản còn lại.
Đó gần như là hình ảnh cô đọng nhất về Nguyễn Văn Mốt:
Khi cần vận chuyển, ông là người lính vận tải.
Khi kho bị bom đánh, ông lao vào cứu kho.
Khi đối phương tiến công, ông trở thành người chỉ huy chiến đấu.
Và khi tiếng súng vừa ngừng, ông lại trở về công việc của một người lính hậu cần.
Một mặt trận ở phía sau chiến hào
Nguyễn Văn Mốt được tặng 3 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 12 giấy khen, bốn năm liền là Chiến sĩ thi đua và đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp I.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967, ông được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Câu chuyện của Nguyễn Văn Mốt không chỉ là câu chuyện về một trận chiến đấu bảo vệ căn cứ.
Đó còn là câu chuyện về mặt trận hậu cần trong chiến tranh.
Một bao gạo đến được đơn vị phía trước phải qua những con đường đầy bom đạn.
Một kho hàng tồn tại được sau những cuộc đánh phá là kết quả của biết bao công sức.
Và phía sau những người lính trực tiếp chiến đấu luôn có những con người âm thầm bảo đảm từng chuyến hàng, từng kho lương thực.
Nguyễn Văn Mốt là một trong những con người như thế.
Ông giữ kho để giữ nguồn tiếp tế.
Giữ nguồn tiếp tế để bộ đội phía trước có thể tiếp tục chiến đấu.


