Bài viết

Nguyễn Văn Náo(1914-2003)

Đồng Tháp20/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Nguyễn Văn Nào người làng Long Khánh, quận Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc (nay là xã Long Khánh, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp), ông sinh ngày 25/6/1914 trong một gia đình nông dân nghèo. Tuổi ấu thơ của ông gắn liền với năm tháng lao động vật vã: mò cua, bắt cá, mót lúa, chăn trâu mướn... góp phần thu nhập cho một gia đình nhà nông không có ruộng đất, phải cày thuê, cuốc mướn quanh năm

Nhờ có sự kèm cặp hướng dẫn của ông Lê Thứ, Bí thư chi bộ Long Khánh và ông Nguyễn Ngọc Bối (Tâm Dưa) đảng viên chi bộ Tân Huế, ông gia nhập Nông hội đỏ vào năm 1936. Qua công tác, ông từng bước ý thức được thân phận của người dân mất nước, người nông dân không có ruộng cày, nên ông rất tích cực xả thân vào việc chung. Đến tháng 8/1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được phân công chỉ huy phó đội du kích xã Long Khánh. Để chuẩn bị tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa, ông cùng đồng đội hăng hái luyện tập, đồng thời vận động mọi người tham gia. Nhưng kế hoạch bị bại lộ, cuộc khởi nghĩa bất thành.

Ông tích cực tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở xã nhà. Cách mạng thành công, ông được bầu làm Bí thư chi bộ xã. Qua năm 1946 là Quận uỷ viên quân Hồng Ngự. Năm 1949, là Tỉnh uỷ viên tỉnh Long Châu Tiến, phụ trách Bí thư quận Hồng Ngự, sang năm 1950 về tỉnh Long Châu Sa, phụ trách Bí Thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh huyện Phú Châu. Năm 1953, ông là Phó Bí thư kiêm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh huyện Tân Châu. Sau đình chiến là Trưởng ban Binh vận tỉnh Châu Đốc.

Trong kháng chiến chống Mỹ, năm 1957, ông là Thường vụ Tỉnh uỷ An Giang, Trường Phân ban Châu Đốc. Từ tháng 12/1958, ông là Bí Thư Tỉnh uỷ An Giang cho đền tháng 3/1964. Trong suốt thời gian này, ông cùng Đảng bộ tỉnh vượt qua nhiều khó khăn trong việc bảo đảm an toàn bộ phận lãnh đạo của tỉnh trước sự truy lùng ráo riết của địch. Căn cứ của Tỉnh uỷ phải di chuyển liên tục, từ Mỹ Đức, Khánh Hòa (Châu Phú), sang Long Sơn (Tân Châu), đến cuối năm 1959 phải dời sang Thường Thới (Hồng Ngự, Kiến Phong), rồi quay về vùng núi đồi Tri Tôn, Tịnh Biên để chỉ đạo phong trào Đồng khởi vào đầu năm 1960. Tháng 3/1964. ông được rút về Khu 8, phụ trách Trường Ban An ninh Khu, phụ trách Mặt trận, Dân vận, Nông hội, Hòa Hảo vận vào năm 1965.

Sau Mậu Thân (1968), tình hình An Giang vốn đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn vì địch quyết tâm bình định vùng Bảy Núi mà trung tâm là căn cứ Tức Dụp. Nhận thấy ông là người địa phương và đã nhiều năm công tác trên địa bàn này, đã tích lũy nhiều kinh nghiệm cho công tác lãnh đạo sau này, nên tháng 8/1969, ông được giao nhiệm vụ Bí thư tỉnh An Giang lần hai.

Ông trở lại lãnh đạo kháng chiến ngay trên quê hương An Giang đúng vào lúc địch dùng sư đoàn 9 và sư đoàn 21 tấn công toàn diện vào vùng Bảy Núi. Qua ba lần kiên cường đánh trả của quân dân Bảy Núi, tạo nên huyền thoại Tức Dụp anh hùng. Song song với việc lãnh đạo chiến trường Bảy Núi, ông và Đảng bộ An Giang đã hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân đấu tranh ở vùng tạm chiếm trong công tác diệt ác phá kém, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh chồng bắt lĩnh đôn quân, bắn phá vùng giải phóng...

Đến tháng 6/1971, Khu uỷ rút ông về phụ trách Mặt trận. Dân vận. Sau Giải phóng ông là cán bộ Thanh tra thuộc bộ phận phía Nam. Năm sau, ông nghỉ hưu và mất vào năm 2003.

Là người con Đồng Tháp, nhưng cả cuộc đời ông gắn liền với phong trào cách mạng An Giang. Ông có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ông được Đảng và Nhà nước tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Nhì, Ba.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn