Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGUYỄN VĂN NHƯƠNG – NGƯỜI CHIẾN SĨ NHỎ BÉ VÀ NHỮNG TRẬN ĐÁNH KHÔNG QUÊN

Gia Lai24/08/2026Đoàn xã Đak Pơ (Đoàn xã Đak Pơ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1965, giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, một chàng trai mới 17 tuổi, quê ở xã Cầu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, đã viết đơn tình nguyện xin nhập ngũ.

Tên anh là Nguyễn Văn Nhương.

Đơn xin nhập ngũ của chàng trai trẻ khi ấy có một mong muốn rất giản dị mà mạnh mẽ: được cầm súng vào miền Nam chiến đấu.

Nhưng con đường đến với chiến trường của Nhương không hề dễ dàng.

Hai lần khám tuyển, anh đều bị loại vì quá thấp và nhẹ cân. Với một thanh niên mới 17 tuổi, có lẽ đó là lúc nhiều người sẽ chấp nhận trở về.

Nhưng Nhương thì không.

Anh vẫn kiên trì xin được nhập ngũ.

Cuối cùng, sự quyết tâm của chàng trai xứ Thanh đã thuyết phục được Hội đồng khám tuyển. Cuối năm 1965, Nguyễn Văn Nhương chính thức lên đường.

Từ đây, cuộc đời của người thanh niên ấy gắn với những trận chiến khốc liệt trên chiến trường miền Nam.

Nhương được biên chế vào lực lượng cao xạ. Công việc của anh là chiến đấu chống máy bay địch, bảo vệ bộ đội, bảo vệ trận địa và những tuyến đường vận chuyển chiến lược.

Đó là một công việc mà chỉ một khoảnh khắc chậm trễ cũng có thể phải trả giá bằng tính mạng.

Nhưng Nhương ngày càng trưởng thành trong chiến đấu.

Trong 6 năm, từ 1967 đến 1972, ông tham gia 175 trận đánh, bắn rơi 13 máy bay, bắn cháy 2 xe tăng và diệt 54 tên địch. Những con số ấy sau này trở thành những dấu mốc quan trọng trong hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng của ông.

Nhưng có một câu chuyện khác về Nguyễn Văn Nhương mà có lẽ đáng nhớ không kém những con số chiến công.

Đó là câu chuyện về ngày ông được kết nạp Đảng ngay tại trận địa.

Năm 1968, sau khi đã bắn rơi 7 máy bay Mỹ và được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công, Nhương vẫn chưa được kết nạp Đảng.

Một buổi sáng tháng 8 năm ấy, Chính ủy Lê Thư tìm gặp ông và hỏi liệu ông đã thấy mình đủ tiêu chuẩn đứng vào hàng ngũ của Đảng hay chưa.

Nhương trả lời rằng ông không biết mình đã đủ hay chưa, nhưng nếu chưa thì ông vẫn nguyện là người chiến sĩ Quân Giải phóng, tiếp tục chiến đấu để bảo vệ và thống nhất đất nước.

Ngày hôm sau, quyết định kết nạp Đảng được trao cho ông ngay tại trận địa.

Đó là ngày 15/8/1968 – một ngày mà nhiều năm sau, Nguyễn Văn Nhương vẫn nhớ như in.

Chiến tranh đi qua, nhưng những người đồng đội năm xưa vẫn ở lại trong ký ức của ông.

Năm 1971, tại Đại hội Chiến sĩ thi đua của Trung đoàn 95, ông được tặng một cuốn sổ nhỏ. Cuốn sổ ấy sau này trở thành một trong những kỷ vật quý giá nhất của người lính.

Trong những trang giấy nhỏ bé, ông cẩn thận ghi lại tên tuổi, quê quán của đồng đội.

Giấy thời chiến rất hiếm. Mực cũng không nhiều. Những dòng chữ phải viết thật nhỏ.

Ông kể rằng các chiến sĩ trong Trung đoàn khi vào Nam đều có lý lịch trích ngang, nhưng vì yêu cầu bảo mật nên thông tin được chia thành những bản riêng biệt. Khi ấy, ông là Chính trị viên Đại đội 14, sau này là Đại đội súng máy 12,7 ly, nên giữ một bản danh sách.

Đến tháng 3/1971, khi biết mình chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới, ông đã chép lại đầy đủ tên tuổi, quê quán của những người đồng đội với mong muốn sau này khi có điều kiện ra Bắc sẽ tìm đến thăm gia đình họ, báo tin cho người thân.

Một người lính giữa chiến trường mà vẫn nhớ đến gia đình của đồng đội.

Đó có lẽ cũng là một phần đẹp đẽ nhất của tình đồng chí.

Trong những người từng chiến đấu bên Nguyễn Văn Nhương có Nguyễn Văn Thuần.

Nhiều năm sau chiến tranh, ông Thuần vẫn giữ những trang nhật ký của mình và sao lại gửi tặng người đồng đội cũ.

Những dòng nhật ký ấy ghi lại hình ảnh một Nguyễn Văn Nhương rất khác với những con số trong hồ sơ chiến công: một người chiến sĩ trẻ, gần gũi và đầy sức sống giữa những ngày tháng chiến trường.

Có những tình bạn được chiến tranh thử thách bằng bom đạn.

Và có những tình đồng đội kéo dài hơn nửa thế kỷ.

Đến hôm nay, những kỷ vật ấy vẫn được Nguyễn Văn Nhương nâng niu.

Một tấm chăn dù pháo sáng.

Một cuốn sổ nhỏ.

Những huân chương.

Một bông hồng bằng nhung từng được trao tại Đại hội Chiến sĩ thi đua anh hùng toàn miền Nam năm 1971.

Với người ngoài, đó có thể chỉ là những vật cũ.

Nhưng với người lính đã đi qua chiến tranh, đó là ký ức.

Là đồng đội.

Là tuổi trẻ.

Là những năm tháng không thể quay lại.

Sau gần 30 năm trong quân ngũ, trong đó có 6 năm trực tiếp chiến đấu ở chiến trường miền Nam, Nguyễn Văn Nhương trở về cuộc sống đời thường tại Gia Lai.

Ngày 28/5/2010, Chủ tịch nước quyết định phong tặng ông danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhưng nhiều năm sau, khi kể lại chuyện chiến trường, ông vẫn không xem mình là một người đặc biệt.

Ông từng nói một câu rất giản dị:

“Đánh giặc xong là về nhà thôi. Tôi không nghĩ mình sẽ là anh hùng.”

Có lẽ đó chính là vẻ đẹp của những người lính bước ra từ chiến tranh.

Họ không nghĩ mình đang làm nên lịch sử.

Họ chỉ biết rằng khi Tổ quốc cần, mình phải chiến đấu.

Khi đồng đội cần, mình phải ở bên.

Và khi chiến tranh kết thúc, những gì còn lại không phải là những lời ca ngợi, mà là ký ức về những người đã cùng mình đi qua những năm tháng khốc liệt nhất.

Hôm nay, tại phường Diên Hồng, tỉnh Gia Lai, người Anh hùng Nguyễn Văn Nhương vẫn là một nhân chứng sống của một thời hoa lửa. Những kỷ vật ông gìn giữ không chỉ là tài sản riêng của một người lính, mà còn là những mảnh ký ức quý giá về một thế hệ đã chiến đấu và hy sinh cho ngày đất nước thống nhất.

Từ một cậu học trò 17 tuổi bị từ chối trong hai lần khám tuyển, Nguyễn Văn Nhương đã trở thành người lính của 175 trận đánh, người bắn rơi 13 máy bay và cuối cùng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhưng có lẽ, điều đáng nhớ nhất về ông không nằm ở những con số.

Mà nằm ở một cuốn sổ nhỏ.

Trong đó có tên những người đồng đội.

Những cái tên mà ông sợ thời gian sẽ làm phai mờ.

Và ông đã cố giữ lại.

Bởi người lính có thể rời chiến trường, nhưng không bao giờ rời khỏi ký ức của những người đã cùng mình đi qua thời hoa lửa.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn