NGUYỄN VĂN PHÙNG – NGƯỜI Y TÁ VỪA CỨU THƯƠNG BINH, VỪA CẦM SÚNG CHIẾN ĐẤU
Nguyễn Văn Phùng sinh năm 1948, quê xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ năm 1967. Trong những năm 1968–1972, ông tham gia và phục vụ chiến đấu 19 trận, vừa làm nhiệm vụ cứu chữa thương binh ngay giữa trận địa, vừa trực tiếp chiến đấu. Ông đã cấp cứu hơn 40 thương binh, đồng thời diệt 42 địch, bắn cháy 2 xe tăng, phá hủy 3 đại liên và bắt 5 tù binh. Ngày 19-5-1972, Nguyễn Văn Phùng được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
NGƯỜI LÍNH QUÂN Y GIỮA CHIẾN TRƯỜNG
Nguyễn Văn Phùng sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc.
Năm 1967, ông nhập ngũ.
Khi được tuyên dương Anh hùng, Nguyễn Văn Phùng là y tá, Trung đội phó Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1968 đến 1972, ông tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu 19 trận.
Điểm đặc biệt ở Nguyễn Văn Phùng là ông đảm nhiệm đồng thời hai nhiệm vụ:
CỨU THƯƠNG BINH – TRỰC TIẾP CHIẾN ĐẤU
Ở bất cứ trận đánh nào, Nguyễn Văn Phùng cũng bám sát đội hình đơn vị. Nơi nào có chiến sĩ bị thương, ông tìm cách vượt qua hỏa lực để tiếp cận, băng bó và đưa đồng đội về nơi an toàn.
Nhưng khi tình thế buộc phải chiến đấu, người y tá ấy lập tức cầm súng.
Trong những năm chiến đấu, Nguyễn Văn Phùng được ghi nhận:
Diệt 42 địch – bắn cháy 2 xe tăng – phá hủy 3 đại liên – bắt 5 tù binh.
CRẾP – VƯỢT QUA PHÁO ĐẠN CỨU ĐỒNG ĐỘI
Ngày 25-7-1970, trong trận đánh tại Crếp, một chiến sĩ bị thương ở mắt giữa lúc trận đánh đang diễn ra quyết liệt.
Nguyễn Văn Phùng lập tức vượt qua khu vực pháo đạn, tiếp cận người bị thương.
Ông nhanh chóng băng bó rồi:
CÕNG THƯƠNG BINH RA NƠI AN TOÀN
Nhưng nhiệm vụ của ngày hôm đó chưa kết thúc.
Cũng trong trận đánh, khi Nguyễn Văn Phùng đang băng bó cho thương binh thì đối phương tổ chức phản kích.
Không có thời gian rút lui, ông lấy ngay súng của người bị thương để chiến đấu.
Kết quả:
DIỆT 5 ĐỊCH – BẢO VỆ THƯƠNG BINH
Đó là hình ảnh tiêu biểu của Nguyễn Văn Phùng trên chiến trường: túi cứu thương bên mình, nhưng khi cần, sẵn sàng cầm súng bảo vệ đồng đội.
9-10-1971 – MỘT MÌNH BẢO VỆ 3 THƯƠNG BINH NẶNG
Ngày 9-10-1971, Nguyễn Văn Phùng đang băng bó cho 3 đồng đội bị thương nặng thì quân đối phương tiến đến.
Tình thế đặc biệt nguy hiểm.
Phía sau ông là ba thương binh không thể tự bảo vệ mình.
Nguyễn Văn Phùng lập tức chuyển từ cứu thương sang chiến đấu.
Khi một người đối phương áp sát, ông:
DÙNG LÊ ĐÂM CHẾT 1 ĐỊCH
Sau đó, ông tiếp tục nổ súng:
DIỆT THÊM 4 ĐỊCH – THU 2 SÚNG
Ba thương binh được bảo vệ an toàn.
HƠN 40 THƯƠNG BINH ĐƯỢC CẤP CỨU NGAY TẠI TRẬN ĐỊA
Trong quá trình chiến đấu, Nguyễn Văn Phùng đã trực tiếp:
BĂNG BÓ, CẤP CỨU HƠN 40 THƯƠNG BINH
Trong đó có 7 trường hợp trọng thương.
Đó không chỉ là những con số.
Mỗi lần cứu thương giữa trận địa đồng nghĩa với việc người y tá phải rời nơi tương đối an toàn, tiếp cận vị trí đang bị hỏa lực uy hiếp, xử trí vết thương rồi tìm cách đưa đồng đội ra phía sau.
Nguyễn Văn Phùng vẫn kiên trì thực hiện nhiệm vụ trong những điều kiện gay go, quyết liệt nhất.
Ông hết lòng chăm sóc thương binh, bệnh binh và nghiêm túc thực hiện chính sách đối với thương binh, tử sĩ.
NGƯỜI Y TÁ CÓ 4 LẦN ĐƯỢC TẶNG DANH HIỆU DŨNG SĨ
Những thành tích của Nguyễn Văn Phùng được ghi nhận bằng:
3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba;
2 lần danh hiệu Chiến sĩ thi đua;
4 lần danh hiệu Dũng sĩ;
10 bằng khen và giấy khen.
Ngày 19 tháng 5 năm 1972, Nguyễn Văn Phùng được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu:
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG
Câu chuyện về Nguyễn Văn Phùng nổi bật bởi một lựa chọn rất rõ ràng giữa chiến trường: khi đồng đội bị thương, ông lao tới cứu; khi đối phương tiến đến nơi thương binh đang nằm, ông đứng lại chiến đấu. Với người y tá ấy, cứu một đồng đội và bảo vệ người đồng đội đó đến cùng là hai phần không thể tách rời của cùng một nhiệm vụ.



