NGUYỄN VĂN SƠN – NGƯỜI CHỈ HUY QUẢ CẢM TRÊN CHIẾN TRƯỜNG KHU 6
Nguyễn Văn Sơn, tức Hùng, sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Thiếu tá, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Đức, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1961 đến tháng 4-1975, đồng chí chiến đấu và công tác tại Khu 6, tham gia hơn 100 trận, chỉ huy đơn vị tiêu diệt hàng nghìn địch; riêng bản thân diệt 137 tên, bắt 18 tên, thu 24 súng. Nổi bật là trận tập kích sân bay Cam Ly năm 1966 và trận tiêu diệt chi khu Đức Trọng năm 1969. Ngày 15-1-1976, Nguyễn Văn Sơn được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Có những người trưởng thành qua từng trận đánh, từ một người chiến sĩ bình thường trở thành người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Với họ, bản lĩnh không chỉ nằm ở khả năng chiến đấu mà còn được thể hiện trong những thời khắc khó khăn nhất, khi một quyết định của người chỉ huy có thể ảnh hưởng đến cả đơn vị.
Nguyễn Văn Sơn là một người như thế.
Sinh năm 1928 trên quê hương Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Văn Sơn bước vào những năm tháng chiến đấu với ý chí kiên định của một người con miền đất cực Nam Trung Bộ.
Từ năm 1961 đến tháng 4 năm 1975, ông gắn bó với chiến trường Khu 6.
Từ một chiến sĩ, qua thực tiễn chiến đấu, Nguyễn Văn Sơn từng bước trưởng thành. Dù đảm nhiệm cương vị nào, ông cũng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm và đặc biệt là khả năng quyết đoán trong những tình huống khó khăn.
Trong suốt quá trình chiến đấu, Nguyễn Văn Sơn tham gia hơn 100 trận. Những đơn vị do ông chỉ huy đã tiêu diệt hàng nghìn địch. Riêng ông trực tiếp diệt 137 tên, bắt 18 tên và thu 24 khẩu súng các loại.
Nhưng những con số ấy chỉ phản ánh một phần hành trình chiến đấu của người chỉ huy này.
Một trong những trận đánh thể hiện rõ nhất bản lĩnh Nguyễn Văn Sơn diễn ra vào ngày 5 tháng 2 năm 1966.
Mục tiêu hôm ấy là sân bay Cam Ly ở Đà Lạt.
Nguyễn Văn Sơn chỉ huy đội biệt động thị xã bí mật đột nhập sân bay. Cuộc tiến công diễn ra, nhưng khi đơn vị hoàn thành nhiệm vụ thì trời đã sáng.
Đó cũng là lúc tình thế trở nên nguy hiểm.
Quân địch từ những khu vực xung quanh nhanh chóng kéo đến. Các hướng rút lui dần bị bao vây.
Giữa thời điểm ấy, chỉ cần người chỉ huy mất bình tĩnh, cả đơn vị có thể rơi vào thế bất lợi.
Nguyễn Văn Sơn vẫn giữ được sự tỉnh táo.
Ông bình tĩnh quan sát tình hình, tổ chức lực lượng và chỉ huy đơn vị rút khỏi vòng vây an toàn.
Nhưng khi những người lính đã rút ra, Nguyễn Văn Sơn không lập tức trở về.
Ông một mình quay lại trận địa.
Giữa lúc quân địch đang tăng cường truy tìm, hành động ấy đồng nghĩa với việc tự đặt mình trở lại nơi nguy hiểm nhất.
Nguyễn Văn Sơn quay lại để kiểm tra kết quả trận đánh. Phát hiện vẫn còn hai máy bay vận tải chưa bị phá hủy, ông tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ, phá hủy nốt hai chiếc máy bay.
Không chỉ vậy, trên đường trở ra, ông còn đưa được một thương binh về phía sau.
Một người chỉ huy đã đưa đơn vị thoát khỏi vòng vây, rồi lại quay vào nơi nguy hiểm để hoàn thành nốt nhiệm vụ và cứu đồng đội.
Đó không chỉ là lòng dũng cảm.
Đó còn là trách nhiệm của người chỉ huy đối với nhiệm vụ và chiến sĩ của mình.
Ba năm sau, bản lĩnh ấy tiếp tục được thể hiện trong trận đánh chi khu Đức Trọng.
Tháng 6 năm 1969, lực lượng ta nhiều lần chuẩn bị tiến công chi khu này nhưng gặp không ít khó khăn.
Lúc ấy Nguyễn Văn Sơn đã là tỉnh đội phó.
Thay vì chỉ nhận báo cáo từ cấp dưới, ông cùng một số cán bộ trực tiếp đi điều tra mục tiêu.
Phải hiểu địch.
Phải nắm địa hình.
Phải tìm được cách vượt qua hệ thống phòng thủ.
Và phải tìm ra phương án để đơn vị có thể giành thắng lợi.
Sau quá trình nghiên cứu, Nguyễn Văn Sơn quyết tâm tổ chức tiến công.
Đêm chiến đấu, phía trước lực lượng ta là chín lớp hàng rào bảo vệ chi khu.
Nguyễn Văn Sơn trực tiếp chỉ huy đơn vị cắt từng lớp rào.
Một lớp.
Rồi lớp thứ hai.
Cho đến lớp thứ chín.
Khi cửa mở được hình thành, người chỉ huy không đứng lại phía sau.
Nguyễn Văn Sơn dẫn đầu chiến sĩ xông lên.
Cuộc tiến công diễn ra quyết liệt.
Cuối cùng, lực lượng do ông chỉ huy đã tiêu diệt hoàn toàn chi khu Đức Trọng, nơi có một tiểu đoàn địch đóng giữ.
Những trận đánh như Cam Ly và Đức Trọng cho thấy một nét nổi bật trong phẩm chất của Nguyễn Văn Sơn: ông không chỉ biết ra mệnh lệnh mà thường có mặt ở những nơi khó khăn, nguy hiểm để cùng chiến sĩ giải quyết tình huống.
Từ một người chiến sĩ, ông trưởng thành qua chiến trường để trở thành cán bộ chỉ huy.
Nhưng càng trưởng thành, Nguyễn Văn Sơn càng quan tâm đến một nhiệm vụ khác: xây dựng đơn vị và đào tạo thế hệ kế tiếp.
Ông chú trọng bồi dưỡng những chiến sĩ trẻ, truyền lại kinh nghiệm chiến đấu để họ có thể tiếp tục đảm đương nhiệm vụ.
Bởi một người chỉ huy giỏi không chỉ được đánh giá qua những trận đánh mình đã thắng.
Điều còn lại sau những chiến thắng ấy chính là những con người mà mình đã góp phần rèn luyện và trưởng thành.
Từ năm 1961 cho đến những ngày tháng 4 lịch sử của năm 1975, Nguyễn Văn Sơn đã dành gần trọn một chặng đường dài cho chiến trường Khu 6.
Hơn 100 trận đánh.
Hàng nghìn quân địch bị đơn vị do ông chỉ huy tiêu diệt.
Riêng ông diệt 137 tên, bắt 18 tên và thu 24 khẩu súng.
Với những thành tích ấy, Nguyễn Văn Sơn được tặng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba cùng 21 bằng khen và giấy khen.
Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Nguyễn Văn Sơn danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Từ người chiến sĩ của Khu 6 đến người Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Đức, hành trình của Nguyễn Văn Sơn được viết nên bằng những năm tháng chiến đấu bền bỉ.
Nhưng có lẽ hình ảnh tiêu biểu nhất về ông vẫn là buổi sáng năm 1966 tại Cam Ly:
Sau khi đã đưa đồng đội thoát khỏi vòng vây, người chỉ huy ấy lại một mình quay trở vào trận địa – để hoàn thành nốt nhiệm vụ và đưa một thương binh trở về.
Đó là lòng dũng cảm.
Đó là trách nhiệm.
Và đó cũng là phẩm chất của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Sơn.



