NGUYỄN VĂN THUẦN – NGƯỜI CÁN BỘ MƯU TRÍ TRÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG KÉO PHÁO ĐIỆN BIÊN
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, chiến thắng không chỉ được làm nên bởi những trận đánh vang dội, mà còn được kết tinh từ biết bao ngày đêm âm thầm mở đường, kéo pháo, đào hào, dựng công sự giữa núi rừng Tây Bắc. Trên những con đường đầy bùn đất, đá núi và bom đạn ấy, có một người cán bộ luôn bình tĩnh, mưu trí, biết biến khó khăn thành sáng kiến để cùng đồng đội hoàn thành nhiệm vụ. Đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Thuần. Đồng chí Nguyễn Văn Thuần sinh năm 1916, quê ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Sau Cách mạng Tháng Tám, khi đất nước vừa giành được độc lập nhưng lại phải bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông xung phong vào bộ đội. Từ ngày nhập ngũ đến tháng 5 năm 1954, Nguyễn Văn Thuần chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ trong đội hình Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Từ một người chiến sĩ, ông trưởng thành lên cán bộ tiểu đoàn. Trải qua nhiều trận đánh, nhiều nhiệm vụ gian khổ, Nguyễn Văn Thuần luôn thể hiện phẩm chất của người cán bộ xung kích: bình tĩnh trước hiểm nguy, linh hoạt trong xử trí, gần gũi với chiến sĩ và luôn biết tìm cách vượt qua khó khăn bằng trí tuệ, ý chí của người lính cách mạng. Giữa tháng 12 năm 1953, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 17 tháng 01 năm 1954, các đơn vị chủ lực của Đại đoàn 312 vượt qua dãy Tà Lèng, áp sát Điện Biên Phủ, tổ chức phòng ngự và làm công sự cho pháo. Trung đoàn 141 của Nguyễn Văn Thuần cùng Trung đoàn 209 được giao nhiệm vụ tham gia kéo pháo vào trận địa. Đó là những ngày đêm vô cùng gian khổ. Những khẩu pháo nặng nề phải được kéo qua núi cao, vực sâu, đường trơn, dốc đứng. Sau 9 ngày đêm lao động khẩn trương, phần lớn pháo đã được đưa vào trận địa. Nhưng đúng lúc toàn quân chuẩn bị nổ súng tiến công, Bộ Chỉ huy Chiến dịch ra lệnh: tạm ngừng tiến công, kéo pháo ra. Mệnh lệnh ấy đánh dấu sự thay đổi lớn về phương châm tác chiến: từ “đánh nhanh, thắng nhanh” chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc”. Với bộ đội, điều đó đồng nghĩa với việc phải tiếp tục bước vào một thử thách mới: kéo pháo ra, làm lại đường, củng cố trận địa, chuẩn bị cho một chiến dịch lâu dài, chắc thắng. Sau đó, Trung đoàn 141 của Nguyễn Văn Thuần nhận nhiệm vụ làm đường cho pháo cơ động. Công việc được tiến hành trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Không có máy ủi, không được dùng thuốc nổ, dụng cụ thô sơ cũng không đủ. Búa tạ, choòng, xà beng thiếu; rìu, cưa hầu như không có. Trong tay người lính chỉ có dao rựa, xẻng bộ binh đã cũ và một quyết tâm không gì lay chuyển. Trước hoàn cảnh ấy, Nguyễn Văn Thuần đã phát huy sự sáng tạo của người cán bộ gần thực tế. Không có xà beng, ông động viên anh em chặt gỗ cứng làm xà beng. Không được dùng thuốc nổ phá đá, ông hướng dẫn chiến sĩ kiên nhẫn theo thớ đá mà đục dần. Không có cưa hạ cây, ông cùng đồng đội bới gốc, chặt từng rễ bằng dao rựa rồi hạ cây. Từng mét đường được mở ra bằng mồ hôi, bằng đôi tay chai sạn và bằng ý chí bền bỉ của những người lính Điện Biên. Không chỉ làm đường, Tiểu đoàn 16 của Nguyễn Văn Thuần còn đảm nhận việc đào hầm cho pháo 105mm. Đây là nhiệm vụ nặng nhọc, đòi hỏi công sức và kỹ thuật rất cao. Mỗi hầm pháo phải đào sâu vào vách núi, moi từ 200 đến 300m³ đất đá. Gỗ chống hầm phải to, chắc; nắp hầm phải dày trên 3m, gồm nhiều lớp đất xen gỗ và bó trúc để chịu được bom tạ. Công việc ấy nặng nề, nguy hiểm, nhưng dưới sự chỉ huy và động viên của Nguyễn Văn Thuần, đơn vị vẫn hoàn thành chu đáo, bảo đảm trận địa pháo vừa an toàn, vừa sẵn sàng chiến đấu. Song song với việc xây dựng công sự trận địa, nhiệm vụ chuẩn bị đánh cứ điểm Him Lam cũng được tiến hành khẩn trương. Đại đoàn 312 quyết định sử dụng Trung đoàn 141 và Trung đoàn 209 tiến công trên hướng chủ yếu. 17 giờ 05 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức bắt đầu. Mở màn là trận tiến công cứ điểm Him Lam. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt. Địch chống trả điên cuồng, hỏa lực bắn ra dữ dội, nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường tiến công. Đến 23 giờ 30 phút, Đại đoàn 312 hoàn toàn làm chủ căn cứ Him Lam, mở đầu thắng lợi cho toàn chiến dịch. Sau trận Him Lam, vòng vây của quân ta ngày càng khép chặt. Các đơn vị Trung đoàn 141 tiếp tục đào hào, siết dần thế trận bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trong quá trình ấy, Phó Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thuần có sáng kiến đào ngầm dưới lòng đất, tạo yếu tố bất ngờ, giúp bộ đội áp sát mục tiêu trong điều kiện địch kiểm soát hỏa lực ác liệt. Từ kéo pháo, làm đường, đào hầm, mở hào đến tổ chức chiến đấu, Nguyễn Văn Thuần luôn có mặt ở những nơi khó khăn, nặng nhọc nhất. Ông không chỉ chỉ huy bằng mệnh lệnh, mà còn bằng chính hành động của mình. Sự bình tĩnh, mưu trí và tinh thần chịu đựng gian khổ của ông đã góp phần động viên chiến sĩ vượt qua những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua. Đêm 06 tháng 5 năm 1954, khi chiến dịch bước vào thời khắc quyết định, các đơn vị ta đồng loạt tiến công những cứ điểm cuối cùng. Sau 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng, quân và dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược. Trong chiến thắng vĩ đại ấy có công sức, trí tuệ và mồ hôi của biết bao người lính, trong đó có Nguyễn Văn Thuần – người cán bộ đã góp phần mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, đào hào áp sát địch và cùng đồng đội tạo nên thế trận “đánh chắc, tiến chắc” làm nên chiến thắng lịch sử. Với những chiến công xuất sắc, đồng chí Nguyễn Văn Thuần được tặng thưởng 2 Huy chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 11 lần được Tiểu đoàn, Trung đoàn, Đại đoàn khen thưởng. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, ông được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện về Nguyễn Văn Thuần là câu chuyện về bản lĩnh, trí tuệ và sự sáng tạo của Bộ đội Cụ Hồ. Từ những con đường kéo pháo, những hầm pháo sâu trong vách núi đến những đường hào áp sát quân thù, ông đã góp phần viết nên bản anh hùng ca Điện Biên Phủ bằng lòng dũng cảm, sự mưu trí và niềm tin tất thắng vào độc lập, tự do của Tổ quốc.



