NGUYỄN VĂN THUẦN – NGƯỜI CHỈ HUY GAN GÓC CỦA QUẢNG YÊN
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy Tiên

Nguyễn Văn Thuần (1916–1979) sinh tại xóm Cổng Bấc, làng Quỳnh Lâu, xã Cộng Hòa, huyện Yên Hưng, nay là phường Cộng Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Tuổi thơ của ông gắn với cảnh nghèo khó; từ năm 10 đến 28 tuổi, ông phải đi ở cho nhiều gia đình địa chủ.
Năm 1944, ông bị bắt đi lính cho quân Pháp. Sau ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ông bị bắt làm tù binh và bị đánh đập rất dã man. Sau khi trốn thoát trở về quê, ông tìm đến với Việt Minh.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Văn Thuần tình nguyện vào bộ đội. Ông được biên chế vào Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 và từng bước trưởng thành từ một người lính lên cán bộ chỉ huy.
Những trận đánh làm nên tên tuổi
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông trực tiếp tham gia khoảng 30 trận đánh, thể hiện sự gan dạ, táo bạo nhưng cũng rất mưu trí.
Năm 1948, tại trận Phủ Thông (Bắc Kạn), Nguyễn Văn Thuần dẫn đầu tổ xung kích đánh giáp lá cà với quân địch và góp phần diệt gọn đồn Phủ Thông.
Một năm sau, tại Phố Ràng (Lào Cai), dù bị thương, ông vẫn không rời trận địa. Cùng ba đồng chí khác, ông tiếp tục chiến đấu, đánh chiếm khoảng hai phần ba đồn địch, thu được một khẩu trung liên và một súng cối 60 ly.
Đến Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950, ông lại xung phong dẫn đầu một tiểu đội tiến sát vị trí địch, bắt sống cả một trung đoàn theo thành tích được ghi nhận trong hồ sơ tuyên dương.
Trong Chiến dịch Trung du 1950–1951, có lúc lực lượng của ông chỉ còn ba người. Nhưng thay vì rút lui, ông vẫn hô đồng đội xung phong, khiến quân địch hoang mang và rút chạy, tạo điều kiện để quân ta chiếm được một quả đồi.
Đến Chiến dịch Hòa Bình năm 1952, ông chỉ huy một trung đội bí mật bắc thang, đột nhập vào đồn địch, đánh tiêu diệt quân đối phương.
Người chỉ huy ở Điện Biên Phủ
Đỉnh cao trong cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Văn Thuần là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Khi ấy, ông là Tiểu đoàn phó, phụ trách đại đội chủ công.
Trong điều kiện chiến trường vô cùng khó khăn, ông đã có nhiều sáng kiến thiết thực. Khi thiếu máy móc và vật liệu, ông cùng bộ đội sử dụng choòng, đục, xẻng, cuốc để thay thế máy ủi và thuốc nổ, phục vụ làm đường kéo pháo và xây dựng công sự.
Ông còn chỉ đạo đào hào ngầm rồi đánh sập để tạo thành hào lộ thiên, giúp bộ đội từng bước cơ động, vây lấn và áp sát các vị trí của quân Pháp. Trong chiến đấu, đơn vị do ông phụ trách đã hoàn thành nhiệm vụ, tiêu diệt địch và bắt sống một đại đội.
Những chiến công ấy không chỉ đến từ lòng dũng cảm. Đó còn là khả năng quan sát, tìm cách khắc phục khó khăn và đưa ra quyết định nhanh chóng của một người chỉ huy từng trải.
Một người lính từ tuổi thơ cơ cực
Từ một cậu bé nghèo từng phải đi ở, từng bị bắt đi lính cho quân Pháp, Nguyễn Văn Thuần đã trở thành người chỉ huy trưởng thành qua chiến đấu.
Ông đã được tặng Huân chương Quân công hạng Ba, hai Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Ba, cùng nhiều lần được các cấp khen thưởng và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu.
Ngày 31/8/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 714/SL, phong tặng Nguyễn Văn Thuần danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khi được tuyên dương, ông là Trung đoàn phó Trung đoàn 209, Đại đoàn 312.
Ông qua đời năm 1979 tại Hà Nội.
Từ một người dân nghèo bị bắt đi lính cho Pháp, ông đã tìm về với cách mạng. Từ một người lính, ông trưởng thành thành người chỉ huy. Từ Phủ Thông, Phố Ràng, Biên giới, Hòa Bình đến Điện Biên Phủ, mỗi chiến trường lại ghi thêm một dấu ấn về lòng gan dạ và trí mưu của ông.
Ông không chỉ biết tiến lên trước làn đạn. Ông còn biết tìm cách để đồng đội tiến lên cùng mình.
Và có lẽ đó chính là hình ảnh đẹp nhất về Anh hùng Nguyễn Văn Thuần:
Một người lính từng đi qua đói nghèo, tù đày và bom đạn, nhưng cuối cùng đã trở thành người góp phần đưa lá cờ chiến thắng đến ngày đất nước giành lại độc lập.



