Nguyễn Văn Thuế
NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN CỦA NGƯỜI LÍNH PHÒNG KHÔNG KHÔNG QUÂN Ông Nguyễn Văn Thuế, sinh năm 1944, là một trong những người lính trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, gắn bó nhiều năm với Quân chủng Phòng không – Không quân, tham gia trực tiếp vào nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Khi còn rất trẻ, ông nhập ngũ và được biên chế vào lực lượng Phòng không – Không quân. Công tác chủ yếu của ông là phục vụ kỹ thuật, thiết kế, thi công và bảo đảm trận địa cho pháo
NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN CỦA NGƯỜI LÍNH PHÒNG KHÔNG KHÔNG QUÂN
Ông Nguyễn Văn Thuế, sinh năm 1944, là một trong những người lính trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, gắn bó nhiều năm với Quân chủng Phòng không – Không quân, tham gia trực tiếp vào nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Khi còn rất trẻ, ông nhập ngũ và được biên chế vào lực lượng Phòng không – Không quân. Công tác chủ yếu của ông là phục vụ kỹ thuật, thiết kế, thi công và bảo đảm trận địa cho pháo cao xạ, tên lửa và sân bay. Phần lớn thời gian quân ngũ, ông công tác tại Hà Nội – nơi được coi là “trái tim” của miền Bắc, cũng là mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Ngoài ra, ông còn được điều động đi nhiều địa phương khác như Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị – những tuyến lửa quan trọng trong chiến tranh.
Ông không trực tiếp cầm súng xung phong nơi tuyến đầu, nhưng công việc của ông luôn gắn liền với chiến trường. Ông tham gia thiết kế trận địa tên lửa, kéo khí tài, phục vụ kỹ thuật cho máy bay và pháo phòng không. Những nhiệm vụ ấy âm thầm nhưng vô cùng quan trọng, góp phần bảo vệ bầu trời miền Bắc và bảo đảm an toàn cho các tuyến giao thông, sân bay, mục tiêu trọng yếu.
Trong quá trình công tác, ông từng hành quân sang Lào theo đường rừng. Đó là những chặng đường vô cùng gian nan: băng rừng, vượt suối, leo núi cao hiểm trở. Có những đoạn chỉ là mỏm đá chênh vênh giữa gió núi, bộ đội phải dùng gỗ rừng làm thang, buộc dây mà bò lên từng bậc. Đi từ sáng sớm đến chiều tối mới tới nơi, ai nấy đều mệt rã rời, nhưng không một lời than vãn.
Trên tuyến đường Trường Sơn, đặc biệt là đường 20 – tuyến vận tải huyết mạch, ông chứng kiến sự hy sinh lớn lao của bộ đội, thanh niên xung phong và lái xe. Ban ngày đào hầm chữ A tránh bom, ban đêm xe nối xe vượt đường. Có lúc mọi người còn cười nói, chia tay nhau rất vô tư, nhưng chỉ một trận bom sau đó là đã có người ngã xuống. Bom bi, bom phá rải khắp nơi, nhiều nữ thanh niên xung phong bị thương, thậm chí hy sinh. Chiến tranh là vậy, rất khốc liệt và tàn nhẫn.
Ông từng chứng kiến những đợt tổng động viên, khi nhiều nữ sinh, sinh viên Hà Nội vừa rời ghế nhà trường đã khoác ba lô vượt Trường Sơn. Ba lô nặng hàng chục cân, leo dốc cao, nhiều người kiệt sức. Ông và đồng đội phải động viên, giúp mang bớt đồ, khuyên chỉ giữ lại những thứ thật cần thiết. Cuối cùng, nhiều người đành bỏ lại chăn màn, tư trang để tiếp tục hành quân.
Sau khi đất nước thống nhất, ông xuất ngũ và trở về quê ở Hà Nam. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, đông anh em, ruộng đất ít, ông lại rời quê lên nơi khác lập nghiệp. Sau đó, ông công tác ở cấp xã trong nhiều năm cho đến khi nghỉ hưu. Nhìn lại quãng đời quân ngũ hơn mười năm, ông coi đó là những năm tháng gian khổ nhưng đáng tự hào – nơi tuổi trẻ đã được sống, cống hiến và trưởng thành giữa bom đạn chiến tranh, cùng đồng đội bảo vệ bầu trời và hậu phương miền Bắc.


