Nguyễn Văn Tiếp (Kênh Nguyễn Văn Tiếp)
Nguyễn Văn Tiếp (Kênh Nguyễn Văn Tiếp)
Nguyễn Văn Tiếp sinh năm 1900 tại làng Long Phú, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay là xã Thanh Phú, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) trong một gia đình trí thức yêu nước.
Thưở nhỏ, ông được gia đình cho lên Sài Gòn học tập. Do có điều kiện tiếp xúc với sách báo tiến bộ và chịu sự tác động của các phong trào đấu tranh chống chính quyền thực dân Pháp, nên ông sớm có tư tưởng yêu nước và cách mạng.
Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, ông làm giáo viên tại trường tiểu học Thanh Hà (Bến Lức). Trong khoảng thời gian này, ông tích cực tham gia các phong trào yêu nước đang diễn ra sôi nổi ở Nam bộ, như phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh, phong trào đấu tranh đòi chính quyền Pháp trả tự do nhà yêu nước Phan Bội Châu (1925), phong trào để tang và truy điệu chí sĩ Phan Châu Trinh (1926),… Sau đó, ông bị Pháp bắt và giam ở Cần Thơ; nhưng do không có chứng cớ nên bọn chúng đành phải thả ông ra.
Năm 1929, ông gia nhập tổ chức An Nam Cộng sản Đảng. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2-1930), ông được cử làm Bí thư chi bộ làng Long Phú (tháng 4-1930). Đây là một trong số mấy chi bộ được thành lập sớm nhất ở tỉnh Chợ Lớn. Tháng 5-1930, ông chỉ huy hàng trăm nông dân tiến vào quận lỵ Trung Quận (nay là thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lực, tỉnh Long An) đấu tranh đòi giảm sưu thuế. Sau cuộc biểu tình này, ông bị thực dân Pháp bắt và xử án tù chung thân đày Côn Đảo. Ở trong tù, mặc dù bị đày ải đến độ cùng cực; nhưng ông vẫn giữ vững tinh thần lạc quan cách mạng, một lòng một dạ trung thành với Tổ quốc, Đảng và nhân dân.
Cuối năm 1936, do áp lực của phong trào cách mạng trong cả nước và của Mặt trận Nhân dân ở Pháp, ông cùng với nhiều tù chính trị khác được trả tự do. Vừa mới ra tù, ông lại lao vào hoạt động cách mạng. Tháng 11-1940, ông tham gia cuộc khởi nghĩa Nam kỳ tại quê nhà. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Một lần nữa, ông bị địch bắt; rồi sau đó, lãnh án khổ sai chung thân tại Côn Đảo.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông và những người tù cộng sản được Đảng rước về đất liền. Lúc này, thực dân Pháp đang lăm le quay trở lại xâm lược Nam bộ. Với tinh thần tiến công cách mạng, không cho phép mình được nghỉ ngơi, ông hăng hái hoạt động và chấp hành nghiêm chỉnh mọi sự phân công của tổ chức.
Tháng 10-1945, ông được cấp trên tin tưởng cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Mỹ Tho kiêm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ và Xứ ủy viên Xứ ủy Nam bộ. Với trọng trách đó, ông là một trong những cán bộ lãnh đạo trọng yếu chỉ đạo phong trào kháng chiến của nhân dân tỉnh Mỹ Tho nói riêng và Khu 8 nói chung ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong đó có những chiến thắng vang dội trên toàn quốc, như chiến thắng Cổ Cò (tháng 1-1947), chiến thắng Giồng Dứa (tháng 4-1947),…
Tháng 5-1947, trong khi đang chủ trì một cuộc họp quan trọng của tỉnh Mỹ Tho trong vùng căn cứ Đồng Tháp Mười, ông bị bệnh bất ngờ và qua đời.
Để ghi nhớ công lao của ông, theo đề nghị của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh Mỹ Tho, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ đã lấy tên của ông đặt cho một con kinh từ Đồng Tháp Mười đổ ra sông Tiền, thay cho tên kinh Tổng đốc Lộc. Đó là kinh Nguyễn Văn Tiếp, một con kinh có tầm quan trọng về nhiều mặt đối với khu vực Đồng Tháp Mười. Đồng thời, một tiểu đoàn chủ lực thuộc trung đoàn 308 của Quân khu 8 cũng được mang tên ông. Hiện nay, tên ông được đặt tên trường trung học phổ thông ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang; tên đường ở thành phố Tân An và huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Phần mộ của ông tọa lạc tại Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Kinh/Kênh Nguyễn Văn Tiếp không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc khai hoang phục hóa vùng Đồng Tháp Mười mà còn gắn với những giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước.
Kinh/Kênh Nguyễn Văn Tiếp cho đến cuối thế kỷ XVIII chỉ là một con rạch nhỏ bắt nguồn từ sông Vàm Cỏ Tây, ăn sâu vô Đồng Tháp Mười khoảng vài km với tên gọi Rạch Chanh (Đăng Giang). Kinh/Kênh Nguyễn Văn Tiếp do đô đốc Đặng Trấn của nhà Tây Sơn cho đào năm Ất Tỵ 1785, khi đó gọi là kinh/kênh mới Rạch Chanh (Tranh giang Tân kinh). Vì đào kinh ngang qua Bàu Bèo nên dân gian khi đó quen gọi là kinh/kênh Bàu Bèo, lâu ngày nói trại thành kinh/kênh Bà Bèo. Mục đích của nhà Tây Sơn đào kinh/kênh này nhằm phục vụ cho việc hành quân, nhưng cũng nhờ nó mà việc đi lại của người dân thuận lợi hơn, phục vụ tốt cho việc khai hoang xây dựng vùng đất mới. Từ đó, người dân đến định cư ở 2 bờ kinh/kênh ngày một nhiều, tạo nên sự sung túc cho cả khu vực. Con kinh/kênh này thường bị lấp cạn do tiếp giáp với Đồng Tháp Mười nên dưới thời vua Minh Mạng nó được nạo vét cho rộng thêm.
Đến thời Pháp, rồi Mỹ - chính quyền Sài Gòn nhận thấy tầm quan trọng của con kinh/kênh này về kinh tế lẫn quân sự nên cho xáng nạo vét sâu, rộng hơn nữa. Thời đầu, thực dân Pháp gọi đây là “Arroyo Commercial” (kinh/kênh Thương Mãi), sau do Tổng đốc Trần Bá Lộc chỉ huy nạo vét thêm nên có giai đoạn được gọi là kinh/kênh Tổng đốc Lộc.
Quyển Địa chí Tiền Giang (2007) viết: “Năm 1896, Tổng đốc Lộc (Trần Bá Lộc) cho đào một con kinh/kênh lớn dài 45 km, rộng 10 m. Bắt đầu từ rạch Bà Bèo (Arroyo Commercial), đào thời Tây Sơn, bao quanh cả vùng Mỹ Tho đổ ra rạch Ruộng gần Sa Đéc. Để phục vụ cho công trình này, dân phu phải đào 3 con kinh/kênh nhỏ, đi từ Cái Thia, Trà Lọt, Cái Bè, lấy lối vào kinh/kênh chính, dài tổng cộng 81 km, trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Kênh/Kinh đi qua vùng hoàn toàn không có người ở, phải tiếp tế lương thực, thuốc men và nước sinh hoạt cho dân phu. Đào xong 3 con kinh/kênh mở lối này mới dùng thuyền tiếp tế các nhu yếu phẩm nói trên cho việc đào con kinh/kênh chính. Tháng 4 - 1897, kinh/kênh được chủ tỉnh Mỹ Tho Paul Bocquillon tổ chức khánh thành và tháng 7 năm đó được Toàn quyền Paul Doummer chấp thuận đặt tên là kinh/kênh Tổng Đốc Lộc - người khởi xướng và chỉ huy đào kinh”.
Khi mới đào xong kinh/kênh Tổng đốc Lộc, thực dân Pháp và Trần Bá Lộc đã chiêu mộ dân nghèo đến làm ăn, khẩn hoang. Năm 1898, chúng tiếp tục cho đào các kinh/kênh nhỏ, việc khai hoang càng phát đạt. Nhưng công cuộc đào kinh/kênh cũng chỉ dừng lại ở đó, không củng cố và phát triển thêm. Năm 1904 hai trận bão liên tiếp vào ngày 1 tháng 5 và 2 tháng 11 kèm theo lụt lớn đã tàn phá hết mùa màng, nhà cửa, bồi lấp kinh/kênh rạch làm cho phần lớn dân cư bỏ đi đến các vùng dễ làm ăn như miệt Hậu Giang. Bão lũ là nguyên nhân trực tiếp; nhưng thực tế là do lâu ngày kinh mương không được đầu tư tu bổ.
Vào đầu thế kỷ XX, cùng với hàng loạt kinh/kênh rạch khác trong Đồng Tháp Mười, Pháp cho nạo vét lại con kinh/kênh này, từ Rạch Chanh thẳng lên Bà Bèo. Xuất phát từ kinh/kênh Tổng đốc Lộc tại đầu nguồn rạch Cái Nứa, Pháp cho đào một con kinh/kênh thẳng về hướng Tây trong Đồng Tháp Mười, xuyên qua huyện Tháp Mười và Cao Lãnh để ra sông Tiền, dài 60 km. Để thuận tiện giao thông đường thủy, người Pháp đào con kinh thẳng, chứ không theo kinh/kênh cũ cong quẹo. Khi hoàn thành người Pháp đặt tên là Arroyo Commercial (kinh/kênh Thương Mãi) và kinh/kênh này giữ vai trò thông thương giữa miền Tây và Sài Gòn. Ngoài ra, kinh này cũng giữ vị trí chiến lược về mặt quân sự. Vị trí chiến lược này đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược Nam bộ lần thứ 2 (tháng 9-1945). Kinh/Kênh Thương Mãi trở thành hành lang bảo vệ chiến khu trong Đồng Tháp Mười. Quân Pháp tổ chức nhiều đợt bố ráp vào trong Đồng Tháp Mười xuất phát từ con kinh/kênh này trong những năm 1947 - 1948.
Vê tên kinh/kênh, đến khi Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, tên kinh/kênh Tổng đốc Lộc mới xóa bỏ. Sau năm 1947, ta đã lấy tên đồng chí Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Mỹ Tho vừa mới hy sinh để đặt cho con kinh/kênh này - kinh/kênh Nguyễn Văn Tiếp. Năm 1957, Ngô Đình Diệm đổi lại thành kinh/kênh Tháp Mười. Từ sau năm 1975, tên đồng chí Nguyễn Văn Tiếp lại được đặt cho con kinh này.
Những năm 1980, với chủ trương tiến công vào Đồng Tháp Mười, kinh/kênh Nguyễn Văn Tiếp được nạo vét và mở rộng một lần nữa (rộng 50 m); đồng thời xây dựng một con đập ở đoạn giáp với sông Vàm Cỏ, gọi là cống đập Rạch Chanh. Dọc bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp là đê bao chống lũ mang tên Đê 19 tháng 5 với nhiều đập nhỏ dùng để tháo chua, ngăn lũ như: đập Rạch Gốc, Cống Tượng, Cầu Quán… Dọc bờ Bắc là Đường Tỉnh 865 xuyên qua địa phận các huyện Tân Phước, Cai Lậy, Cái Bè (Tiền Giang) đến thị trấn Mỹ An (huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp).
Kinh/Kênh Nguyễn Văn Tiếp là kinh/kênh dài nhất tỉnh Tiền Giang, chảy qua 4 huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, Châu Thành, dài 66 km, bề ngang 40 m, độ sâu trung bình 4 - 5 m. Trong đó, đoạn kinh/kênh từ rạch Ruộng chạy lên phía đông bắc gọi là kênh Nguyễn Văn Tiếp B dài 20,4 km, đoạn rẽ về phía đông nối với sông Vàm Cỏ Tây gọi là Nguyễn Văn Tiếp A dài 45,5 km. Kinh/Kênh Nguyễn Văn Tiếp B cũng là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Tiền Giang với Đồng Tháp. Kinh/Kinh được nạo vét nhiều lần, nhất là năm 2000 để lấy đất đắp đê ngăn lũ.


