NGUYỄN VĂN TÍNH - XỨNG VỚI NIỀM TIN ĐƯỢC GIAO
Điều đáng quý không phải một tập thể không bao giờ có khác biệt, mà là sau những khác biệt ấy con người vẫn biết giữ sự tôn trọng dành cho nhau. Đồng đội đã dạy tôi bài học ấy. Để rồi nhiều năm sau, khi cuộc đời mỗi người đã đi theo một hướng, chỉ cần nghĩ về những ngày từng cùng đứng trong hàng ngũ, tôi vẫn có thể gặp lại hình ảnh của tuổi trẻ – cái tuổi còn nhiều bỡ ngỡ nhưng đã bắt đầu biết sống cho một điều rộng hơn bản thân.
Con người đôi khi chỉ nhận ra mình đã trưởng thành từ lúc không còn ai đứng cạnh để nhắc từng điều quen thuộc. Ngày còn ở quê, nhiều việc tưởng như tự nhiên: có người thân bên cạnh, có nếp sống đã thuộc từ nhỏ, có một khoảng đời bình dị mà chưa bao giờ phải gọi tên là bình yên. Tôi là Nguyễn Văn Tính, sinh năm 1966, quê Thiệu Hóa. Năm 1985, khi khoảng mười chín tuổi, tôi nhập ngũ, quãng phục vụ gắn với C9D9E209F312 – Quân đoàn 1, và trong những năm quân ngũ tôi được giao cương vị A trưởng. Đến năm 1989, tôi xuất ngũ. Đó là bốn năm nằm trong một giai đoạn đất nước đã thống nhất tròn một thập niên nhưng vẫn còn nhiều khó khăn của thời hậu chiến. Kinh tế, đời sống xã hội còn nhiều thử thách; nhiệm vụ quốc phòng vẫn đòi hỏi quân đội duy trì sự vững vàng, tổ chức và kỷ luật. Tôi bước vào hàng ngũ không phải giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà trong một giai đoạn khác của lịch sử – khi hòa bình đã trở thành nền tảng của cuộc sống nhưng sự bình yên ấy vẫn cần được gìn giữ bằng trách nhiệm của những người đang đứng trong quân đội.
Năm 1985, tôi mới mười chín tuổi. Đó là độ tuổi người ta vừa muốn nhanh chóng bước ra thế giới rộng lớn, vừa chưa thể hình dung hết những điều đang chờ mình phía trước. Tôi cũng có những ước mong của một thanh niên bình thường: một công việc, một tương lai, những ngày tháng được tự quyết định con đường của mình. Nhưng trước khi có thể đi sâu vào những dự định riêng, tôi bước vào quân ngũ. Đối với tôi, đó là một sự thay đổi lớn. Từ một người con của Thiệu Hóa, quen với môi trường mình đã sống từ nhỏ, tôi phải học cách hòa mình vào một tổ chức có nguyên tắc, có yêu cầu chung và có những con người đến từ nhiều nơi khác nhau. Cái khó của tuổi trẻ không chỉ nằm ở việc xa quê, mà còn ở chỗ phải bắt đầu tự chịu trách nhiệm cho cách mình sống. Không còn có thể nghĩ rằng một phút tùy tiện chỉ ảnh hưởng đến riêng mình; trong hàng ngũ, mỗi người đều thuộc về một tập thể.
Nỗi nhớ Thiệu Hóa cũng đến theo một cách rất riêng. Khi còn ở quê, tôi chưa từng nghĩ sự thân thuộc lại có sức níu lòng mạnh đến vậy. Chỉ khi đi xa, những điều nhỏ bé mới trở nên có ý nghĩa: cảm giác được ở giữa những người nói cùng một giọng quê, được nhìn những cảnh vật mình đã quen từ nhỏ, được biết rằng phía sau mỗi ngày luôn có một nơi để trở về. Nhưng nỗi nhớ không khiến tôi yếu đi. Trái lại, nó làm tôi hiểu quê hương sâu hơn. Tôi nhận ra rằng muốn những điều bình thường ấy được tồn tại lâu dài, đất nước phải có một nền ổn định đủ vững. Từ suy nghĩ giản dị ấy, việc đứng trong quân ngũ đối với tôi không còn chỉ là nghĩa vụ của một người trẻ, mà là một phần trách nhiệm với chính nơi đã sinh ra và nuôi lớn mình.
C9D9E209F312 và phần trách nhiệm của một A trưởng
Quãng quân ngũ của tôi gắn với C9D9E209F312 – Quân đoàn 1. Trong tập thể ấy, tôi được giao cương vị A trưởng. Với tôi, điều đáng nhớ nhất của cương vị ấy không nằm ở tên gọi mà ở cảm giác mình phải sống khác đi khi đã được giao thêm một phần trách nhiệm. Trước đó, một người trẻ có thể nghĩ nhiều đến việc mình làm đúng hay chưa; khi đứng ở vị trí phải để tâm thêm đến anh em bên cạnh, câu hỏi ấy rộng hơn: cách mình ứng xử có khiến mọi người tin cậy hay không, sự nóng vội của mình có làm người khác khó chịu hay không, lúc tập thể gặp điều chưa thuận mình có đủ bình tĩnh để không làm tình hình nặng thêm hay không. Chính những câu hỏi như thế đã khiến tôi dần hiểu rằng trách nhiệm trước hết là tự yêu cầu cao hơn đối với bản thân.
Làm A trưởng không khiến tôi nghĩ mình đứng tách khỏi anh em. Ngược lại, cương vị ấy làm tôi hiểu sâu hơn rằng muốn một tập thể gắn bó thì người được giao trách nhiệm càng phải biết gần gũi, biết lắng nghe và tôn trọng sự khác biệt giữa từng người. Mỗi đồng đội có một tính cách, một hoàn cảnh, một cách bộc lộ cảm xúc. Có người cởi mở, có người ít nói; có người dễ thích nghi, có người cần nhiều thời gian hơn để tìm được nhịp chung. Nếu chỉ nhìn một người qua một khoảnh khắc, ta rất dễ hiểu chưa hết về họ. Những năm quân ngũ dạy tôi chậm lại trước khi phán xét, biết rằng đôi khi một sự im lặng cũng có lý do của nó và một phút không vui không nói hết phẩm chất của cả một con người. Đó là bài học rất đời, nhưng với tôi lại bắt đầu từ những ngày sống trong hàng ngũ.
Qua thời gian, tôi nhận ra uy tín không đến từ việc nói nhiều hay cố chứng tỏ mình hơn người khác. Nó được hình thành chậm, qua cách sống đều đặn và nhất quán. Một người hôm nay nói điều này, ngày mai làm điều khác thì khó khiến người bên cạnh tin lâu. Ngược lại, khi mình biết giữ sự công bằng, biết nhận phần trách nhiệm khi có điều chưa trọn, biết không để cảm xúc riêng làm thay đổi cách đối xử với anh em, lòng tin sẽ tự nhiên lớn lên. Cương vị A trưởng bởi vậy trở thành một bài học về sự tự rèn. Tôi học cách nghĩ thêm trước khi nói, biết khi nào cần kiên quyết và khi nào cần mềm lại, hiểu rằng giữ một tập thể gần nhau nhiều khi bắt đầu từ việc đừng để cái tôi của mình đứng quá lớn giữa những người khác.
Đồng đội và những ngày tuổi trẻ cùng trưởng thành
Quân ngũ khiến những người xa lạ trở thành những người biết về nhau theo một cách rất đặc biệt. Chúng tôi đến từ những miền quê khác nhau, trước ngày gặp nhau mỗi người có một cuộc sống riêng, vậy mà rồi cùng bước vào một nhịp sinh hoạt chung. Ban đầu có thể còn những khoảng cách về tính cách, cách nói chuyện hay thói quen, nhưng thời gian dần khiến mọi người hiểu nhau sâu hơn. Ai cũng có quê để nhớ, có gia đình để thương, có những điều muốn làm sau ngày trở về. Khi nhận ra phía sau người bên cạnh cũng là những mong muốn rất giống mình, người ta dễ cảm thông hơn. Chính sự cảm thông ấy làm những năm xa nhà bớt dài và khiến hai chữ đồng đội dần có một sức nặng vượt ra ngoài cách xưng hô thông thường.
Tôi nhớ đồng đội không phải bởi một sự kiện thật lớn nào, mà bởi cảm giác từng sống bên nhau trong những năm đầu trưởng thành. Có những tình cảm chỉ thời gian mới tạo ra được. Một người sống cạnh mình đủ lâu sẽ biết lúc nào mình vui thật, lúc nào chỉ đang cố giữ vẻ bình thường; ngược lại, mình cũng dần biết nhìn vào thái độ của người kia để hiểu họ đang có điều gì trong lòng. Không cần mọi chuyện đều phải nói ra. Có những lúc chỉ cần một cách cư xử biết nghĩ cho nhau cũng đủ làm lòng người nhẹ hơn. Ở tuổi mười chín, hai mươi, có thể chúng tôi chưa gọi tên được hết ý nghĩa của những điều ấy. Nhưng nhiều năm sau nhìn lại mới thấy chính những ngày bình dị ấy đã tạo nên một thứ nghĩa tình bền hơn rất nhiều lời hứa.
Cương vị A trưởng còn khiến tôi có cơ hội hiểu sâu hơn giá trị của sự gắn bó. Khi có thêm trách nhiệm trong tập thể, tôi càng thấy không ai có thể đứng vững thật lâu nếu tách mình hoàn toàn khỏi những người khác. Mỗi người đều có lúc mạnh, lúc yếu, có khi vững vàng, có khi cần được cảm thông. Điều đáng quý không phải một tập thể không bao giờ có khác biệt, mà là sau những khác biệt ấy con người vẫn biết giữ sự tôn trọng dành cho nhau. Đồng đội đã dạy tôi bài học ấy. Để rồi nhiều năm sau, khi cuộc đời mỗi người đã đi theo một hướng, chỉ cần nghĩ về những ngày từng cùng đứng trong hàng ngũ, tôi vẫn có thể gặp lại hình ảnh của tuổi trẻ – cái tuổi còn nhiều bỡ ngỡ nhưng đã bắt đầu biết sống cho một điều rộng hơn bản thân.
Từ năm cuối trước Đổi Mới đến ngày trở về
Khi tôi nhập ngũ năm 1985, đất nước vẫn đang ở một thời điểm kinh tế – xã hội nhiều khó khăn. Một năm sau, năm 1986, công cuộc Đổi Mới được khởi xướng, mở đầu cho một quá trình chuyển biến sâu rộng trong đời sống đất nước. Tôi đã sống gần trọn quãng quân ngũ của mình trong chính thời điểm chuyển giao ấy. Từ những năm còn nhiều thiếu thốn, xã hội bắt đầu đi tìm những cách làm mới, những hướng phát triển mới. Với một người lính trẻ, những thay đổi lớn của đất nước không làm mất đi những yêu cầu vốn có của quân ngũ: vẫn phải sống có tổ chức, biết giữ mình trong tập thể và làm tròn phần trách nhiệm được giao. Nhưng nhìn từ khoảng cách nhiều năm, tôi hiểu đó là một trải nghiệm đáng quý – được trưởng thành trong lúc chính đất nước cũng đang bước vào một giai đoạn thay đổi quan trọng.
Những năm từ 1985 đến 1989 không phải những năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, vì thế tôi luôn nhìn quãng quân ngũ của mình đúng trong bối cảnh hậu chiến của nó. Đất nước đã thống nhất, nhưng nhiệm vụ quốc phòng vẫn giữ một vị trí quan trọng; xã hội còn cần thời gian để vượt qua những khó khăn kéo dài sau chiến tranh. Chính hoàn cảnh ấy cho tôi một cách hiểu khác về người lính. Người lính không chỉ có mặt trong những năm tiếng súng của các cuộc kháng chiến lớn. Khi đất nước bước vào hòa bình, quân đội vẫn cần những con người được tổ chức, rèn luyện và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc. Thế hệ chúng tôi vì vậy có phần việc của riêng mình: không sống lại hoàn cảnh của lớp người trước, nhưng tiếp tục giữ cho nền hòa bình và thống nhất có một chỗ dựa vững chắc.
Đến năm 1989, tôi xuất ngũ khi khoảng hai mươi ba tuổi. Bốn năm quân ngũ khép lại, nhưng người trở về không còn nguyên là chàng trai mười chín tuổi của ngày lên đường. Tôi đã biết tự lập hơn, bớt nóng vội hơn và hiểu trách nhiệm không phải một khái niệm chỉ dành cho môi trường quân đội. Trở lại đời thường, những gì từng học trong hàng ngũ tiếp tục đi theo: biết việc gì cũng cần sự chắc chắn, biết khi có trách nhiệm với người khác thì không thể chỉ sống theo cảm xúc của mình, biết một mối quan hệ muốn bền phải có sự tôn trọng. Quê hương vẫn là Thiệu Hóa, nhưng trong mắt người trở về, sự bình yên của quê nhà đã trở nên đáng quý hơn bởi mình từng có những năm đi xa và học cách nhìn cuộc sống từ một vị trí khác.
Để người sau hiểu giá trị của sự tin cậy
Nhiều năm sau, khi nghĩ về quãng đời gắn với C9D9E209F312 – Quân đoàn 1, tôi không thấy điều quan trọng nhất là mình đã ở trong quân ngũ bao lâu hay từng được gọi bằng cương vị gì. Điều ở lại sâu hơn là cách những năm tháng ấy sửa đổi một con người từ bên trong. Tôi đã từng được giao trách nhiệm A trưởng, và chính trách nhiệm ấy dạy tôi hiểu rằng được người khác tin không phải một đặc quyền mà là điều phải giữ bằng cách sống. Muốn đứng cùng anh em lâu dài phải biết hạ bớt sự nóng nảy của mình, biết lắng nghe và biết chịu trách nhiệm trước những điều đã nói, đã làm. Đó là giá trị tôi mang theo lâu hơn mọi dấu mốc của một giai đoạn đã qua.
Người trẻ hôm nay có thể không phải đối diện với những hoàn cảnh giống thế hệ chúng tôi. Đó là điều đáng quý. Một đất nước đi lên chính là để con cháu có thêm lựa chọn, được học tập, lao động, đi xa và gây dựng cuộc sống theo những cách mà người trước từng chưa có điều kiện thực hiện. Nhưng dù hoàn cảnh thay đổi đến đâu, có những phẩm chất vẫn cần thiết: biết giữ chữ tín, biết tôn trọng người khác, không trốn tránh phần trách nhiệm thuộc về mình và không coi sự bình yên là thứ tự nhiên sẽ tồn tại mãi. Lòng biết ơn đối với lịch sử không nhất thiết phải biến thành những lời trang trọng. Nhiều khi cách tri ân sâu nhất chính là sống tử tế trong thời đại của mình.
Một đời người sau cùng không chỉ được đo bằng những gì từng nắm giữ, mà bằng niềm tin đã tạo ra trong những người từng đi cạnh mình. Quá khứ quân ngũ cũng vậy. Nó không cần phải được làm lớn hơn để có ý nghĩa; chỉ cần những bài học của nó còn giúp một người biết đứng cho ngay, biết đối xử có nghĩa với người bên cạnh và biết nhắc con cháu trân trọng quê hương thì đã đủ. Khi thế hệ sau hiểu rằng hòa bình không chỉ là một khoảng thời gian không có chiến tranh mà còn là cơ hội để con người sống tốt hơn với nhau, những năm tháng người đi trước từng dành cho hàng ngũ sẽ tiếp tục được nối dài bằng một hình thức đẹp hơn: bằng sự tin cậy, trách nhiệm và lòng tử tế trong đời sống hôm nay.



