Bài viết

Nguyễn Văn Tố – Người thắp sáng triệu tâm hồn bằng con chữ

Từ một học giả uyên bác, Nguyễn Văn Tố đứng ra lãnh đạo phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ, giúp hàng vạn người biết đọc, biết viết. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông trở thành Chủ tịch Quốc hội đầu tiên và hy sinh trong cuộc tiến công Việt Bắc năm 1947.

Hà Nội22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong những năm đất nước còn chìm dưới ách đô hộ, hàng triệu người Việt Nam không biết đọc, không biết viết. Đối với họ, một tờ báo chỉ là những hàng ký hiệu xa lạ; một thông báo dán giữa làng cũng phải nhờ người khác đọc giúp.

Giữa hoàn cảnh ấy, học giả Nguyễn Văn Tố tin rằng muốn một dân tộc tự quyết định vận mệnh của mình, trước hết người dân phải được tiếp cận tri thức.

Ông sinh ngày 5 tháng 6 năm 1889 tại làng Đông Thành, huyện Thọ Xương, nay thuộc phố Bát Sứ, Hà Nội. Sinh trưởng trong một gia đình Nho học, Nguyễn Văn Tố được học chữ Hán từ nhỏ, sau đó tiếp cận tiếng Pháp và nền học thuật phương Tây.

Ông vào làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ—một cơ quan nghiên cứu lớn của Pháp tại Đông Dương. Trong môi trường phần đông học giả là người nước ngoài, Nguyễn Văn Tố vẫn khẳng định được trí tuệ và bản lĩnh của một học giả Việt Nam.

Ông nghiên cứu nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn học, văn bản Hán Nôm, khảo cổ học, ngôn ngữ và văn hóa dân gian. Ông viết về quốc hiệu Việt Nam, thành Đại La, lịch sử Hồ Tây, thơ văn đời Lê, Truyện Kiều và nhiều vấn đề văn hóa khác.

Nhưng Nguyễn Văn Tố không muốn tri thức chỉ nằm trong những cuốn sách đặt trên giá cao. Ông mong ánh sáng học vấn phải đến được với những người lao động nghèo.

Năm 1938, trước tình trạng mù chữ phổ biến trong xã hội, một số trí thức yêu nước như Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu và Hoàng Xuân Hãn cùng bàn bạc thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ. Với uy tín lớn trong giới trí thức, Nguyễn Văn Tố được tín nhiệm làm Hội trưởng.

Mục tiêu của Hội giản dị nhưng mang ý nghĩa sâu sắc: dạy người Việt Nam biết đọc, biết viết và tiếp nhận những kiến thức cần thiết cho cuộc sống.

Ngày 9 tháng 9 năm 1938, những lớp học đầu tiên được khai giảng tại Hà Nội với gần 800 học viên. Người học có đủ mọi lứa tuổi. Có người ban ngày làm thợ, buôn bán hoặc kéo xe; tối đến lại tìm tới lớp, kiên nhẫn tập viết từng chữ dưới ánh đèn dầu.

Từ những lớp học ban đầu, phong trào nhanh chóng lan rộng. Các lớp mới được mở ở Hàng Cót, Phúc Xá, Bạch Mai, Bưởi, Đông Ngạc, Canh, Diễn và Hà Đông. Đến những năm 1940–1944, số người theo học tại các lớp của Hội đã lên tới hàng chục nghìn.

Mỗi người biết đọc là thêm một tâm trí được mở cửa. Mỗi người biết viết là thêm một tiếng nói có thể tự cất lên.

Những lớp học ấy trở thành cơ sở thực tiễn quan trọng để sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phong trào Bình dân học vụ phát triển mạnh mẽ trên cả nước.

Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Nguyễn Văn Tố tham gia Chính phủ lâm thời và giao ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội. Trong hoàn cảnh đất nước phải đối mặt với nạn đói, nạn dốt và nguy cơ ngoại xâm, ông lại bắt đầu một nhiệm vụ mới: chăm lo đời sống nhân dân và góp phần xây dựng chính quyền non trẻ.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức. Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội tỉnh Nam Định. Tại kỳ họp thứ nhất ngày 2 tháng 3 năm 1946, ông được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội—chức vụ tương đương Chủ tịch Quốc hội ngày nay.

Một học giả vốn quen với những trang sách giờ đây đứng trước trách nhiệm lớn lao của đất nước. Với sự điềm đạm, uyên bác và thanh liêm, ông cùng Quốc hội và Chính phủ góp phần xây dựng nền móng của Nhà nước Việt Nam mới.

Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Nguyễn Văn Tố rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Ông không chọn ở lại một nơi an toàn, dù tuổi đã cao và công việc nghiên cứu còn nhiều dang dở.

Ngày 7 tháng 10 năm 1947, quân Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc và cho lính dù đổ xuống Bắc Kạn. Nguyễn Văn Tố rơi vào tay đối phương.

Tư liệu lịch sử ghi lại rằng khi bị bắt, ông đã dùng tiếng Pháp yêu cầu quân địch chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược. Khi nhận ra người bị bắt không phải Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng đã sát hại ông trong lúc ông tìm cách thoát thân.

Nguyễn Văn Tố hy sinh khi 58 tuổi.

Hay tin ông mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời điếu, ca ngợi học vấn cao sâu, tính tình thanh khiết và tấm lòng trọn đời dành cho việc mở mang văn hóa.

Cuộc đời Nguyễn Văn Tố nối liền ba hình ảnh tưởng như khác biệt: một học giả bên những trang sách cổ, một người thầy vận động toàn dân học chữ và một nhà lãnh đạo đứng trong hàng ngũ kháng chiến.

Ông không trực tiếp chỉ huy một đội quân. Vũ khí của ông là con chữ, tri thức và lòng tin vào sức mạnh của nhân dân. Ông hiểu rằng một dân tộc muốn bảo vệ nền độc lập không chỉ cần những người biết cầm súng, mà còn cần những công dân biết đọc, biết suy nghĩ và hiểu trách nhiệm của mình đối với đất nước.

Nguyễn Văn Tố đã ngã xuống giữa núi rừng Việt Bắc, nhưng những con chữ ông góp phần truyền bá vẫn tiếp tục được viết trên hàng triệu trang vở.

Ánh sáng mà ông thắp lên vì thế chưa bao giờ tắt.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn