Cựu chiến binh

Nguyễn Văn Tố – Nhà chí sĩ yêu nước, học giả uyên bác

Thanh Hóa24/09/2026Đoàn Phường Hương An (Đoàn phường Hương An)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Văn Tố, hiệu Ứng Hòe, sinh ngày 5-6-1889 tại Hà Nội, trong một gia đình Nho học. Ông thuộc thế hệ trí thức chuyển giao giữa nền Hán học và nền học vấn Pháp – Quốc ngữ. Được đào tạo Hán Nôm từ nhỏ, sau đó học tiếng Pháp và tốt nghiệp Trường Thông ngôn, ông làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác cổ. Từ một nhân viên mới tốt nghiệp trung học, ông dần trở thành Chủ sự Học viện, được nhiều học giả trong và ngoài nước kính trọng bởi kiến thức sâu rộng và sự thẳng thắn trong học thuật.

Nguyễn Văn Tố dành nhiều tâm huyết nghiên cứu lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và khảo cổ Việt Nam. Ông viết và biên tập nhiều công trình bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp, trong đó có Đại Nam dật sửSử ta so với sử Tàu. Trong môi trường mà văn hóa phương Tây thường được đề cao, ông vẫn kiên trì nghiên cứu và khẳng định giá trị của văn hóa dân tộc. Ông thường mặc khăn xếp, áo the thâm, ô lục soạn, một hình ảnh thể hiện sự gắn bó với truyền thống dù đang làm việc trong một cơ quan khoa học của Pháp.

Năm 1938, Nguyễn Văn Tố được mời đứng ra vận động thành lập và làm Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ. Tối 25-5-1938, tại Hà Nội, ông có bài diễn thuyết lớn về nạn thất học và ý nghĩa của việc phổ biến chữ Quốc ngữ. Sau đó, Hội được chính quyền Pháp công nhận hoạt động hợp pháp. Trong khoảng bảy năm, mạng lưới của Hội phát triển rộng khắp, mở lớp học, xuất bản sách và lập thư viện bình dân, góp phần giúp hàng vạn người biết chữ.

Một chi tiết cho thấy rõ cách ứng xử của Nguyễn Văn Tố là khi chính quyền thực dân đề nghị trợ cấp cho Hội, ông khéo léo từ chối. Ông cho rằng nếu nhận tiền, người dân có thể ỷ lại và giáo viên có thể trông chờ vào ngân sách. Với cách trả lời mềm mỏng nhưng kiên quyết, ông vừa giữ được sự độc lập của Hội, vừa tránh tạo cớ để chính quyền thực dân can thiệp vào hoạt động của tổ chức. Đồng nghiệp Vũ Đình Hòe cũng nhớ về ông là người khiêm nhường, chân tình, gần gũi với người dân nghèo, nhưng khi cần thì rất cương quyết.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông tham gia Chính phủ và giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội, phụ trách những công việc cấp bách liên quan đến chống đói, chống dốt. Ông chủ động bàn giao tổ chức, kinh nghiệm và cơ sở vật chất của Hội Truyền bá Quốc ngữ cho phong trào Bình dân học vụ, góp phần tạo điều kiện để phong trào nhanh chóng phát triển. Theo bài viết của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, trong thời gian ngắn, hơn hai triệu người đã được xóa mù chữ.

Trong Tổng tuyển cử tháng 1-1946, Nguyễn Văn Tố trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I. Tại kỳ họp đầu tiên ngày 2-3-1946, ông được Quốc hội bầu làm Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, chức danh tương đương Chủ tịch Quốc hội hiện nay. Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng còn non trẻ và đất nước đứng trước nhiều thử thách, ông cùng các thành viên Ban Thường trực tham gia giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về đối nội, đối ngoại và xây dựng chính quyền.

Ngày 7-10-1946, trong cuộc tập kích của quân Pháp vào Bắc Kạn, Nguyễn Văn Tố bị bắt. Theo hồi ký được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dẫn lại, dù bị địch dụ dỗ và ép buộc, ông vẫn không khuất phục. Cuối cùng, ông hy sinh năm 1947 tại khu vực Bạch Thông, Bắc Kạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời điếu đã viết về ông: “Ngàn thu sẽ vẻ vang, bất diệt.”

Cuộc đời Nguyễn Văn Tố để lại dấu ấn đặc biệt ở sự kết hợp giữa tri thức, lòng yêu nước và trách nhiệm với nhân dân. Từ một học giả uyên bác, ông bước vào hoạt động xã hội, góp phần đưa chữ Quốc ngữ đến với người dân, rồi đảm nhận những trọng trách của chính quyền cách mạng. Hình ảnh một trí thức luôn giữ sự khiêm nhường, gần gũi nhưng kiên định đã trở thành một biểu tượng đẹp của lớp trí thức Việt Nam trong buổi giao thời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nguyễn Văn Tố – Nhà chí sĩ yêu nước, học giả uyên bác | Câu chuyện thời hoa lửa