NGUYỄN VĂN TRÁNG - GIỮA NHỮNG NĂM HẬU CHIẾN
Một người học hành nghiêm túc, làm nghề bằng lương tâm, giữ gìn gia đình, tôn trọng cộng đồng và biết quý lịch sử cũng đang góp phần làm cho hòa bình có ý nghĩa. Người trẻ hôm nay có những cơ hội mà thế hệ trước không có, và điều tốt đẹp nhất là họ biết biến những cơ hội ấy thành một cuộc sống tốt hơn chứ không phải mang mặc cảm phải lặp lại gian khó của cha anh.
Sau nhiều năm, có những thứ của đời quân ngũ không còn hiện diện trước mắt nhưng vẫn ở lại rất lâu trong con người. Bộ quân phục rồi cũng được cất đi, nhịp sống đơn vị nhường chỗ cho cuộc sống thường ngày, tuổi trẻ cũng dần lùi về phía sau. Nhưng chỉ cần nghe lại một phiên hiệu cũ, những năm tháng tưởng đã xa lại có thể trở về. Với tôi, đó là Lữ đoàn 273 – Quân đoàn 3. Tôi là Nguyễn Văn Tráng, sinh năm 1958, quê Thiệu Hóa. Năm 1982, khi khoảng hai mươi bốn tuổi, tôi nhập ngũ. Đến năm 1984, khi khoảng hai mươi sáu tuổi, tôi xuất ngũ. Quãng đời ấy diễn ra sau ngày đất nước thống nhất, trong những năm hậu chiến còn nhiều gian khó. Vì thế, “Thời hoa lửa” của tôi không phải câu chuyện của những năm chống Mỹ, càng không thể tự gắn với một chiến trường hay một cuộc chiến cụ thể nào. Đó là ký ức về một người thanh niên đã dành một phần tuổi trẻ cho quân ngũ trong những năm đất nước vừa đi qua chiến tranh chưa lâu và vẫn đang từng bước ổn định, xây dựng, bảo vệ cuộc sống hòa bình.
Tôi nhập ngũ không phải ở tuổi mười tám mà khi đã khoảng hai mươi bốn. Ở tuổi ấy, một người đã bắt đầu hiểu khá rõ mình gắn bó với quê hương thế nào, hiểu gia đình có ý nghĩa ra sao và cũng đã có những suy nghĩ riêng về cuộc đời phía trước. Thiệu Hóa là nơi tôi đã sống suốt những năm tháng đầu đời, nơi mọi thứ thân thuộc đến mức khi còn ở nhà ít khi phải gọi tên nỗi nhớ. Nhưng ngày bước vào quân ngũ, khoảng cách bắt đầu khiến những điều rất bình thường trở nên có sức nặng khác. Quê nhà không chỉ còn là một địa danh trong lý lịch. Đó là nơi có những người mình thương, có một nhịp sống mình đã quen và có cả phần đời sẽ trở về sau khi hoàn thành trách nhiệm.
Những năm đầu thập niên 1980 không còn là thời chiến tranh chống Mỹ, nhưng đất nước vẫn đang đối diện với không ít khó khăn của thời hậu chiến. Cuộc sống vật chất còn thiếu thốn, công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước vẫn là một hành trình dài. Trong hoàn cảnh ấy, người lính vẫn có trách nhiệm của người lính, còn một thanh niên bước vào quân đội vẫn phải học cách đặt đời sống riêng của mình trong nề nếp chung. Tôi rời Thiệu Hóa để đến với Lữ đoàn 273 – Quân đoàn 3 bằng tâm thế ấy: không phải đi vào một câu chuyện huyền thoại, mà đi vào một quãng đời đòi hỏi kỷ luật, sự bền bỉ và khả năng sống giữa tập thể. Sau này nhìn lại, tôi mới hiểu chính những điều bình dị ấy đã làm hai năm quân ngũ trở thành một phần không thể tách khỏi tuổi thanh xuân của mình.
Lữ đoàn 273 – hai năm học cách sống trong hàng ngũ
Đời quân ngũ của tôi gắn với Lữ đoàn 273 – Quân đoàn 3. Không có thông tin về chức vụ hay nhiệm vụ cụ thể, vì vậy những gì cần giữ lại trong câu chuyện cũng chỉ nên dừng ở sự thật ấy. Tôi đã là một người lính trong đơn vị, sống trong kỷ luật quân đội và có một phần tuổi trẻ thuộc về tập thể đó. Hai năm không phải một quãng quá dài nếu so với cả cuộc đời, nhưng mỗi năm trong quân ngũ lại có một nhịp sống khác với đời thường. Khi đã đứng trong hàng ngũ, con người phải biết mình không còn chỉ quyết định mọi việc theo sở thích cá nhân. Giờ giấc, nền nếp, trách nhiệm, cách ứng xử với đồng đội – tất cả dần tạo nên một cách sống có tổ chức hơn.
Có lẽ điều đầu tiên quân đội dạy tôi là biết đặt chữ “chung” bên cạnh chữ “riêng”. Ở nhà, một người có thể dễ dàng chiều theo tâm trạng của mình. Trong đơn vị, mỗi người là một phần của tập thể; nếu ai cũng chỉ nghĩ đến sự thuận tiện của bản thân, tập thể khó có thể giữ được nề nếp. Bởi vậy, sự trưởng thành của người lính không nhất thiết phải được chứng minh bằng một sự kiện lớn. Nó được hình thành trong rất nhiều ngày bình thường: biết tôn trọng kỷ luật, biết lắng nghe, biết tự điều chỉnh mình và hiểu rằng phần trách nhiệm của mỗi người dù nhỏ vẫn có liên hệ với những người xung quanh. Chính những ngày tưởng không có gì để kể ấy lại là phần bền nhất của ký ức, bởi chúng đã từ từ làm thay đổi cách một con người nhìn về bổn phận và vị trí của mình trong tập thể.
Từ khoảng hai mươi bốn đến hai mươi sáu tuổi, tôi đã đi qua một đoạn ngắn nhưng quan trọng của tuổi thanh niên trong màu áo lính. Ở độ tuổi ấy, người ta không còn quá trẻ để mọi việc chỉ là những trải nghiệm ban đầu, nhưng cũng chưa đủ nhiều tuổi để cảm thấy tương lai đã định hình. Quân ngũ vì thế giống như một dấu gạch giữa những năm tháng đang lớn lên. Có những điều trước kia chỉ hiểu bằng lời, vào quân đội mới hiểu bằng đời sống thực tế: sự tự giác quan trọng hơn lời nhắc nhở, lòng kiên nhẫn quan trọng hơn sự nóng vội, và một người muốn được tập thể tin cậy thì trước hết phải biết sống nghiêm túc với phần trách nhiệm của chính mình. Hai năm ấy không làm nên toàn bộ con người tôi, nhưng chắc chắn đã góp một phần vào cách tôi bước tiếp sau này.
Đồng đội và sức mạnh của những ngày sống bên nhau
Nhắc đến quân ngũ mà không nhắc đến đồng đội thì ký ức sẽ thiếu đi một phần rất lớn. Người lính sống giữa tập thể, và chính tập thể khiến những con người vốn xa lạ trở thành quen thuộc. Mỗi người đến từ một nơi, mang theo một gia đình, một tính cách và một câu chuyện riêng. Nhưng khi đã cùng ở trong một đơn vị, mọi người phải học cách hiểu nhau, tôn trọng nhau và cùng giữ một nề nếp chung. Tình đồng đội không nhất thiết bắt đầu từ một sự kiện đặc biệt. Nhiều khi, nó lớn lên từ chính việc ngày hôm nay vẫn thấy người ấy bên cạnh, ngày mai vẫn cùng nhau bước qua một ngày quân ngũ, rồi tháng này nối sang tháng khác, đến lúc nhận ra những con người từng rất xa lạ đã trở thành một phần của ký ức tuổi trẻ.
Tôi nghĩ sức mạnh của đồng đội trước hết nằm ở cảm giác không ai phải tự mình gánh mọi điều. Ai cũng có một quê hương để nhớ, một gia đình để nghĩ tới, những mong muốn riêng cho ngày trở về. Khi hiểu người bên cạnh cũng có những nỗi niềm giống mình, con người dễ biết sẻ chia hơn. Trong quân đội, sự sẻ chia ấy còn gắn với lòng tin. Một tập thể không thể vững nếu người này luôn nghi ngờ người kia hay ai cũng chỉ biết giữ phần thuận lợi cho bản thân. Lòng tin được hình thành từ những điều rất nhỏ: từ cách sống có nề nếp, từ việc không bỏ mặc trách nhiệm, từ thái độ biết nghĩ đến người bên cạnh. Đó là những bài học sau này rời quân ngũ vẫn còn nguyên ý nghĩa trong đời sống gia đình và công việc.
Những người đồng đội của năm 1982–1984 cũng là những người đã từng nhìn thấy tôi ở một độ tuổi mà giờ đây chỉ còn tồn tại trong ký ức. Con cháu hôm nay biết một Nguyễn Văn Tráng đã đi qua nhiều năm tháng, nhưng trong ký ức những người từng cùng đơn vị vẫn có một người lính ở tuổi hai mươi bốn, hai mươi lăm. Có lẽ vì vậy, hai tiếng “đồng đội” càng về sau càng trở nên sâu. Người ta không chỉ nhớ người khác; qua họ, người ta còn gặp lại chính mình của một thời đã mất. Một phiên hiệu đơn vị đôi khi giống như một cánh cửa nhỏ mở vào quá khứ, nơi những người từng rất trẻ vẫn đứng cạnh nhau, chưa ai biết đời mình sau này sẽ đi về đâu. Đó là thứ tài sản của ký ức mà thời gian có thể làm mờ nhiều chi tiết nhưng khó xóa hết được cảm giác từng thuộc về một chữ “chúng tôi”.
Thời hoa lửa của một người lính hậu chiến
Khi nói đến “Thời hoa lửa”, nhiều người thường nghĩ ngay đến những năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ hay những chiến trường ác liệt. Nhưng với mỗi con người, thời hoa lửa còn có thể là quãng tuổi trẻ họ đã sống hết mình với trách nhiệm của thời đại, miễn là nhìn đúng hoàn cảnh lịch sử. Tôi nhập ngũ năm 1982, bảy năm sau ngày đất nước thống nhất. Đó là thời kỳ hậu chiến, khi Việt Nam đang trong quá trình khắc phục hậu quả của nhiều thập niên chiến tranh và xây dựng lại cuộc sống trong điều kiện còn khó khăn. Vì thế, không thể lấy những hình ảnh của chiến tranh trước năm 1975 để đặt vào câu chuyện của tôi. Giá trị của hai năm quân ngũ nằm ở chỗ khác: giữa những năm tháng đất nước còn thiếu thốn, một người thanh niên vẫn bước vào hàng ngũ, sống trong kỷ luật và hoàn thành phần trách nhiệm của mình.
Có thể với người hôm nay, hai năm từ 1982 đến 1984 chỉ là hai con số trên một dòng thời gian. Nhưng đối với người đã thật sự sống qua chúng, mỗi năm là hàng trăm ngày không thể trở lại. Hai năm ấy là một phần tuổi hai mươi, là quãng thời gian đáng lẽ có thể được dành cho nhiều con đường khác nhưng đã được đặt trong quân ngũ. Điều đó không khiến tôi trở thành một người đặc biệt hơn ai; nó chỉ cho tôi một cách nhìn khác về giá trị của thời gian. Tuổi trẻ không dài như ta vẫn tưởng khi đang sống trong nó. Một ngày nhìn như rất chậm, nhưng khi nhiều năm đã trôi qua, cả một thời chỉ còn lại trong vài mốc nhớ. Bởi vậy, điều quan trọng không phải tuổi trẻ của mình diễn ra trong hoàn cảnh nào, mà là mình đã sống những năm tháng ấy ra sao.
Năm 1984, tôi xuất ngũ khi khoảng hai mươi sáu tuổi. Cuộc sống đời thường lại mở ra phía trước. Không cần dựng nên một cảnh trở về cụ thể vẫn có thể hiểu rằng khi một người rời quân đội, anh ta mang theo nhiều điều hơn hành trang hữu hình. Nề nếp đã quen, cách nghĩ về tập thể, sự kiên trì và ý thức tự giữ mình không thể lập tức biến mất. Những điều ấy âm thầm đi cùng con người trong nhiều năm sau. Khi phải đối diện với khó khăn trong đời sống, có những bài học từng học trong quân ngũ bỗng trở thành một điểm tựa. Không phải vì hai năm có thể giải quyết mọi chuyện, mà bởi chúng đã giúp một người từng sống trong khuôn khổ hiểu rằng sự bền bỉ nhiều lúc quan trọng hơn cảm xúc nhất thời.
Một chỗ trong ký ức của quê hương
Nhiều năm sau, tôi không mong người sau phải biến hai năm quân ngũ của mình thành một câu chuyện lớn. Điều đáng quý nhất không nằm ở việc một cái tên được nhắc thật nhiều, mà ở chỗ con cháu hiểu rằng thế hệ trước đã sống phần đời của mình trong hoàn cảnh nào. Tôi từng là một người con Thiệu Hóa, có một phần tuổi thanh niên gắn với Lữ đoàn 273 – Quân đoàn 3 trong những năm 1982–1984. Quãng ấy nằm trong thời hậu chiến, không phải giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng vẫn là một phần của hành trình đất nước ổn định và xây dựng cuộc sống mới sau những năm dài chiến tranh.
Hòa bình hôm nay vì thế không chỉ khiến tôi nhớ đến những thế hệ đã đi qua chiến tranh, mà còn khiến tôi nghĩ đến tất cả những con người đã góp phần gìn giữ nề nếp, dựng xây đất nước trong những năm khó khăn sau đó. Mỗi thế hệ có một phần việc khác nhau. Có thế hệ phải bước vào chiến tranh. Có thế hệ bước vào quân ngũ khi chiến tranh lớn đã lùi lại nhưng đất nước vẫn cần sức người cho công cuộc bảo vệ và xây dựng. Điều đáng trân trọng không phải làm cho mọi thế hệ giống nhau, mà là ghi nhận đúng điều mỗi thế hệ đã làm trong hoàn cảnh của mình.
Tôi mong con cháu sau này hiểu rằng bình yên có giá trị nhất khi con người biết dùng nó để xây dựng một cuộc đời tử tế. Không phải ai cũng phải mặc quân phục mới gọi là có trách nhiệm với quê hương. Một người học hành nghiêm túc, làm nghề bằng lương tâm, giữ gìn gia đình, tôn trọng cộng đồng và biết quý lịch sử cũng đang góp phần làm cho hòa bình có ý nghĩa. Người trẻ hôm nay có những cơ hội mà thế hệ trước không có, và điều tốt đẹp nhất là họ biết biến những cơ hội ấy thành một cuộc sống tốt hơn chứ không phải mang mặc cảm phải lặp lại gian khó của cha anh.
Rồi thời gian sẽ tiếp tục đưa những năm 1982–1984 lùi xa hơn nữa. Nhưng trong ký ức của Thiệu Hóa vẫn có thể dành một chỗ bình dị cho Nguyễn Văn Tráng – một người con từng có hai năm tuổi trẻ trong Lữ đoàn 273, Quân đoàn 3. Đó không phải một ký ức cần phóng đại thành chiến công, mà là ký ức về một phần đời đã sống trong hàng ngũ, giữa những năm hậu chiến còn nhiều thử thách. Khi một cái tên vẫn được con cháu nhắc đến bằng sự kính trọng, khi những ngày hòa bình hôm nay được sống bằng lòng biết ơn và sự tử tế, thì phần thanh xuân người lính từng gửi lại cũng đã có một cách rất đẹp để tiếp tục hiện diện.



