Nguyễn Văn Trỗi
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 tại làng Thanh Quýt (nay là thôn Thanh Quýt 4, phường An Thắng, Thành phố Đà Nẵng) trong một gia đình có truyền thống cách mạng.[2] Là con thứ ba nên còn có tên khác là Tư Trỗi. Cha ông Nguyễn Văn Hóa (tự Thoàn), từng tham gia cách mạng thời Kháng chiến chống Pháp; mẹ là Nguyễn Thị Tuất; anh ruột là Nguyễn Văn Toàn, cũng là một chiến sĩ cách mạng, hoạt động tại vùng Điện Bàn, Quảng Nam. Lúc nhỏ, Nguyễn Văn Trỗi học tiểu học ở trường Miếu Xóm.[3] Cha c
Giữa năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi được ông Lê Đức Hiền (Tư Kiếm, tên thật là Nguyễn Hữu Kiếm) nhận vào tổ biệt động thành, Đại hội quyết tử cùng lúc với Nguyễn Hữu Lời. Cả bốn người cùng quê ở làng Thanh Quýt và lúc đó đều cư ngụ ở quanh vùng Vườn Xoài, đường Trương Minh Giảng. Thời gian này, ông ở tại nhà Tư Kiếm. Đến tháng 10 năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi tranh thủ về thăm quê và ghé thăm thầy giáo của mình, đây cũng là lần về Quảng Nam cuối cùng của ông. Đầu năm 1964, nhân dịp Tết Nguyên Đán, Tư Kiếm đã bố trí cho Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Hữu Lời ra căn cứ ở Rừng Thơm (nay thuộc huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) gặp Ban chỉ huy cánh Tây Nam, hai người ở lại căn cứ 3 ngày, xem như dự lớp chính trị ngắn ngày, kết hợp học một số bài võ để phòng thân. Từ căn cứ về, Nguyễn Văn Trỗi chọn ngay mục tiêu "đánh thí điểm" là cư xá Mỹ ở đường Cao Thắng. Sau khi báo cáo, kế hoạch của anh được đồng chí Tư Đạt, Chính trị viên cánh Tây Nam cho phép và tặng một quả lựu đạn da láng của Mỹ. Bằng cách đánh của mình, Nguyễn Văn Trỗi đã dùng lựu đạn hạ được bốn quân nhân Mỹ và làm bị thương 8 nhân viên khác.[8] Sau đó, ông tìm hàng loạt mục tiêu như tàu hải quân Mỹ đóng tại bến Bạch Đằng, nhà máy điện,... để xin đánh, nhưng tổ chức không cho mà chuẩn bị kế hoạch khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara đến miền Nam Việt Nam.[9][10]
Đội Biệt động thành Sài Gòn 65 lúc đó đa số là cán bộ của đội "Quyết tử thành", 9 năm chống Pháp còn sống sót. Họ trở thành bộ phận tham mưu chỉ đạo đánh nguỵ Sài Gòn. Khi họp các tổ, trong tổ chỉ lấy ra 4 người là Lê Đức Hiền (Tư Kiếm) làm tổ trưởng, Nguyễn Hoàng Sơn (anh của Lê Đức Hiền) làm tổ phó, Nguyễn Hữu Lời và Nguyễn Văn Trỗi có trong tổ nhận nhiệm vụ ám sát McNamara.[11]



