Nguyễn Văn Trỗi (3)
“Một thời hoa lửa” – Người Hùng tuổi 24 - Nguyễn Văn Trỗi
“Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, người anh hùng trẻ tuổi của dân tộc Việt Nam. Anh đã biết đem giác ngộ cách mạng của mình hòa vào truyền thống vẻ vang của dân tộc để nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng.Anh sẵn sàng xông pha ra mọi mặt trận ,bằng xương máu và chiến thắng của mình, anh đã viết thêm những trang sử vàng chói lọi cho dân tộc. Cuộc chiến đấu của anh với kẻ thù đã làm cho dân tộc ta đã anh hùng lại thêm anh hùng. Anh đã nêu cao gương sáng vì dân, vì nước quên mình, trước bạo lực của kẻ thù không mảy may run sợ, luôn luôn biểu lộ khí thế hiên ngang của những người đã nhìn thấy chân lý, của những người có chính nghĩa và chiến thắng. Việc làm của anh cũng là những bài học vĩ đại về con người biết sống và biết làm người.Nguyễn Văn Trỗi trước lưỡi lê gươm súng của kẻ thù, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, của nhân dân và giai cấp công nhân miền Nam đã nêu cao tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, gây nên sự chấn động dư luận trong nước và thế giới.”.Đây là những lời mà nhà văn Nhân Liên đã miêu tả về Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trong tác phẩm “Viết về anh bằng máu của tôi” được sáng tác vào 15/10/1966.
Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940 tại xã Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con thứ ba trong một gia đình bần nông và mất mẹ từ nhỏ. Trước sự đàn áp của Mỹ – ngụy tại Duy Xuyên, gia đình anh đã di cư vào Sài Gòn vào năm 1956, định cư tại ấp Tân Ba, Phú Nhuận, thuộc quận Tân Bình. Tại đây, anh vừa làm thuê kiếm sống vừa học nghề điện và sau đó trở thành công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán.
Bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ phong trào yêu nước và cách mạng, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập đội biệt động nội thành Sài Gòn. Anh luôn tình nguyện nhận những nhiệm vụ nguy hiểm, nhưng trong một lần thực hiện nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý, anh bị địch bắt. Mặc cho quân địch tra tấn và dụ dỗ, Nguyễn Văn Trỗi vẫn kiên quyết không tiết lộ bất cứ thông tin nào về cơ sở cách mạng. Anh hy sinh vào ngày 15 tháng 10 năm 1964, khi chỉ mới 24 tuổi.
Tuy hy sinh vào tuổi còn trẻ,nhưng giai thoại về quá khứ hào hùng của anh vẫn còn lưu truyền mãi trong thế hệ ngày nay. Cuộc đời của Nguyễn Văn Trỗi là minh chứng rõ ràng cho lòng kiên trung và tinh thần cách mạng bất khuất. Là một công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán, anh đã chủ động tiếp cận và được giác ngộ bởi tổ chức cách mạng. Sau đó, anh được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng Việt Nam.Năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập đội biệt động Sài Gòn, trở thành một chiến sĩ xuất sắc. Trong quá trình hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Một lần, anh đã dũng cảm ném lựu đạn khiến một số quân địch bị thương và thiệt mạng.Khi biết phái đoàn quân sự cao cấp của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sẽ tới Sài Gòn vào tháng 5/1964, lực lượng cách mạng đã lên kế hoạch tiêu diệt McNamara. Dù mới cưới vợ hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ cài mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP Hồ Chí Minh) – nơi phái đoàn dự kiến sẽ đi qua.Ngày 9/5/1964, Nguyễn Văn Trỗi lên kế hoạch kích hoạt mìn bằng điện đặt dưới chân cầu Công Lý. Tuy nhiên, kế hoạch bị bại lộ và anh bị địch bắt.Bị giam tại Khám Chí Hòa, Nguyễn Văn Trỗi đối mặt với mọi thủ đoạn dụ dỗ và tra tấn của chính quyền Sài Gòn nhưng không hề nao núng. Ngày 10/8/1964, anh bị đưa ra Tòa án Quân sự và kết án tử hình. Tại tòa, khi được hỏi anh muốn gì, anh dõng dạc trả lời: “Tôi chỉ tiếc rằng chưa giết được McNamara”.Trước tinh thần kiên cường của Nguyễn Văn Trỗi, Mặt trận Giải phóng Dân tộc Venezuela đã bắt giữ trung tá Mỹ Michael Smolen tại Caracas và tuyên bố: “Nếu Mỹ và chính quyền Sài Gòn giết Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi sẽ xử tử Smolen”.Trước áp lực này, chính quyền Sài Gòn tạm đình chỉ bản án tử hình của Nguyễn Văn Trỗi và đồng ý trao đổi tù binh. Tuy nhiên, sau khi Michael Smolen được thả, chính quyền Mỹ và Sài Gòn đã trở mặt, bí mật xử bắn Nguyễn Văn Trỗi.Giây phút ra pháp trường ngày 15 tháng 10 năm 1964 càng làm sáng ngời tấm lòng quả cảm của Nguyễn Văn Trỗi. Trước họng súng quân thù, anh không cúi đầu mà hô vang những lời bất diệt:
“Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ!”
“Hồ Chí Minh muôn năm!”
Đó không chỉ là tiếng hô của một con người sắp hy sinh, mà là tiếng nói của cả dân tộc đang vùng dậy; là sức mạnh của lý tưởng, của lòng yêu nước mãnh liệt; là lời gửi gắm từ một trái tim trẻ trung luôn tin tưởng vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Chính sự hiên ngang đến phút cuối ấy đã khiến Nguyễn Văn Trỗi bước vào lịch sử không chỉ như một người anh hùng của Việt Nam, mà còn như một biểu tượng của phong trào cách mạng thế giới.
Sự hy sinh của Nguyễn Văn Trỗi đã làm lay động trái tim của không chỉ người dân trong nước mà cả bạn bè quốc tế. Tại Cuba, hàng vạn thanh niên đã xuống đường hô vang “Tôi là Nguyễn Văn Trỗi” để bày tỏ sự khâm phục đối với người chiến sĩ Việt Nam. Nhiều nước khác cũng tổ chức những phong trào phản đối cuộc hành quyết và ca ngợi lòng dũng cảm của anh. Điều đó cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của tấm gương Nguyễn Văn Trỗi vượt khỏi biên giới đất nước.
Ngày nay, tên anh đã được đặt cho nhiều đường phố, trường học, công trình, như một cách để thế hệ trẻ luôn nhớ về người chiến sĩ năm xưa. Nhưng hơn cả những biểu tượng hữu hình, điều mà Nguyễn Văn Trỗi để lại cho đời sau chính là bài học về lý tưởng, trách nhiệm và lòng quả cảm. Anh dạy chúng ta rằng: dù xuất phát điểm bình dị đến đâu, mỗi con người vẫn có thể tỏa sáng bằng tinh thần hy sinh vì cộng đồng, vì Tổ quốc. Anh cũng nhắc nhở rằng sức mạnh của dân tộc nằm ở ý chí kiên định, ở lòng trung hiếu, ở niềm tin vào chính nghĩa.
Khi nhìn lại cuộc đời ngắn ngủi nhưng vô cùng rực rỡ của Nguyễn Văn Trỗi, ta không chỉ thấy một người anh hùng đã ngã xuống, mà thấy cả sức sống mãnh liệt của một thế hệ thanh niên Việt Nam sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ cho đất nước. Tấm lòng quả cảm của anh sẽ mãi là ngọn lửa truyền cảm hứng, để thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục sống đẹp, sống có lý tưởng và không ngừng cống hiến cho Tổ quốc.
Nguyễn Văn Trỗi đã đi xa, nhưng tinh thần anh còn ở lại – sống cùng đất nước, trong từng trang sử, trong từng giấc mơ về một Việt Nam tự do, hòa bình và hùng cường.


