Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nguyễn Văn Trỗi: 9 Phút Bất Tử Nơi Pháp Trường Chí Hòa

TP. Hồ Chí Minh21/10/2026Phường Bình Lộc (Đoàn phường Bình Lộc)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong trang sử đấu tranh giải phóng dân tộc của thế kỷ XX, có những con người mà sự hy sinh của họ đã vượt ra khỏi ranh giới của một cá nhân, trở thành biểu tượng khí phách kiên cường lay động hàng triệu trái tim yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới. Người chiến sĩ biệt động trẻ tuổi Nguyễn Văn Trỗi chính là một tượng đài bất tử như thế.

Tuổi thơ nghèo khó và bước chân vào hàng ngũ Biệt động Sài Gòn

Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống cách mạng. Sớm mồ côi mẹ, tuổi thơ của anh trải qua muôn vàn cơ cực, nhọc nhằn giữa những năm tháng bom đạn thời kháng chiến chống Pháp.

Năm 1954, sau khi hiệp định Genève được ký kết, đất nước tạm thời bị chia cắt. Lớn lên giữa vùng địch tạm chiếm, chứng kiến nỗi đau mất mát của quê hương, người thanh niên xứ Quảng đã một mình bươn chải vào Sài Gòn tìm kế sinh nhai. Tại đây, anh học nghề và trở thành thợ điện tại nhà máy điện Chợ Quán.

Giữa sào huyệt của đối phương, Nguyễn Văn Trỗi sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1963, anh được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam và tham gia chiến đấu trong đội ngũ Biệt động Sài Gòn (thuộc Đại đội Quyết tử 659). Với vỏ bọc một người thợ điện mẫn cán, anh âm thầm tiếp nhận nhiệm vụ, nắm bắt địa bàn và chuẩn bị cho những trận đánh táo bạo giữa lòng đô thành.

Đầu năm 1964, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara cùng phái đoàn quân sự cấp cao của Nhà Trắng sang Sài Gòn nhằm thị sát chiến trường và tìm cách đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

Trước tình hình đó, tổ chức biệt động chủ trương tổ chức trận phục kích đánh đòn phủ đầu ngay giữa trung tâm đầu não của địch. Nguyễn Văn Trỗi nhận nhiệm vụ bí mật đặt mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – tuyến đường huyết mạch nối từ sân bay Tân Sơn Nhất vào trung tâm thành phố mà đoàn xe chở phái đoàn McNamara chắc chắn sẽ đi qua.

Đáng chú ý, chỉ ít ngày trước khi thực hiện nhiệm vụ, vào ngày 21 tháng 4 năm 1964, anh vừa tổ chức đám cưới giản dị với người con gái cùng chung lý tưởng là chị Phan Thị Quyên. Nén lại hạnh phúc riêng tư chớm nở của đôi vợ chồng trẻ, người chiến sĩ quyết tâm lên đường vì vận mệnh dân tộc.

Đêm ngày 9 tháng 5 năm 1964, khi đang chuẩn bị công đoạn cài đặt quả mìn nặng 8kg dưới chân cầu Công Lý, kế hoạch bất ngờ bị bại lộ do có kẻ chỉ điểm. Nguyễn Văn Trỗi bị địch vây bắt ngay tại trận địa.

Bản lĩnh gang thép trước ngục tù và đòn thù

Biết anh là chiến sĩ biệt động nắm nhiều đầu mối cơ sở trong nội thành, chính quyền Sài Gòn và cố vấn Mỹ đã dùng đủ mọi thủ đoạn tàn độc: từ tra tấn dã man bằng dùi cui, điện giật, kìm kẹp cho đến dụ dỗ tiền tài, danh vọng hòng lung lạc ý chí người thợ điện trẻ.

Đáp lại đòn thù, Nguyễn Văn Trỗi kiên quyết một mực nhận toàn bộ trách nhiệm về mình, tuyệt đối không khai báo nửa lời về đồng đội hay mạng lưới cơ sở mật. Tòa án quân sự đặc biệt của chính quyền Việt Nam Cộng hòa sau đó đã vội vã kết án tử hình anh nhằm răn đe phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố.

Hành động dũng cảm của anh đã gây nên một làn sóng chấn động quốc tế. Ngày 9 tháng 10 năm 1964, các du kích thuộc Lực lượng Vũ trang Giải phóng Quốc gia Venezuela (FALN) đã tổ chức bắt cóc Trung tá tình báo không quân Mỹ Michael Smolen tại thủ đô Caracas để đòi chính phủ Mỹ phải trả tự do cho Nguyễn Văn Trỗi. Trước sức ép quốc tế, chính quyền Mỹ buộc phải hứa hoãn lệnh tử hình. Tuy nhiên, ngay sau khi viên sĩ quan Mỹ được thả tự do, đối phương lập tức lật lọng và đẩy nhanh việc thi hành án.

Khúc tráng ca 9 phút bất tử nơi pháp trường

Sáng ngày 15 tháng 10 năm 1964, tại sân sau nhà lao Chí Hòa (Sài Gòn), quân địch dựng cột hành quyết Nguyễn Văn Trỗi trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên báo chí quốc tế.

Khi giám thị và linh mục tiến lại gần làm các thủ tục tôn giáo và đưa mảnh băng đen để bịt mắt, anh dứt khoát gạt phắt đi và khẳng khái tuyên bố:

“Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi!”

Đứng trước họng súng của đội hành quyết, người thanh niên 24 tuổi ngẩng cao đầu, hiên ngang vạch trần tội ác của đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai. Giây phút đội hành quyết lên đạn, anh dồn hết sức bình sinh hô vang những khẩu hiệu đanh thép làm rung chuyển cả pháp trường:

“Hãy nhớ lấy lời tôi!

Đả đảo đế quốc Mỹ!

Đả đảo Nguyễn Khánh!

Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!

Việt Nam muôn năm!”

Tiếng hô vang dậy của anh hòa cùng loạt đạn khô khốc vào đúng 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964. Nguyễn Văn Trỗi ngã xuống, khép lại 9 phút đối đầu nghẹt thở nơi pháp trường nhưng mở ra một tượng đài bất tử .

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn