NGUYỄN VĂN TRỖI – 9 PHÚT TRƯỚC PHÁP TRƯỜNG VÀ MỘT TUỔI TRẺ KHÔNG CÚI ĐẦU
Có những con người chỉ sống hơn hai mươi năm nhưng câu chuyện về họ lại được nhắc đến qua rất nhiều thế hệ. Có những phút giây tưởng như chỉ là khoảnh khắc cuối cùng của một đời người, vậy mà lại trở thành dấu mốc không thể quên trong lịch sử.

NGUYỄN VĂN TRỖI – 9 PHÚT TRƯỚC PHÁP TRƯỜNG VÀ MỘT TUỔI TRẺ KHÔNG CÚI ĐẦU
Có những con người chỉ sống hơn hai mươi năm nhưng câu chuyện về họ lại được nhắc đến qua rất nhiều thế hệ. Có những phút giây tưởng như chỉ là khoảnh khắc cuối cùng của một đời người, vậy mà lại trở thành dấu mốc không thể quên trong lịch sử.
Nguyễn Văn Trỗi là một người như thế.
Nhắc đến anh, người ta thường nhớ đến một người thanh niên với dáng người gầy, hai tay bị trói, đứng trước pháp trường nhưng đôi mắt vẫn bình tĩnh và ánh nhìn không hề khuất phục. Bức ảnh ấy đã trở thành một hình ảnh quen thuộc khi nhắc về những người trẻ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện vẫn lưu giữ nhiều tư liệu, kỷ vật gắn với cuộc đời anh, trong đó có những bức thư anh viết từ nhà giam và cây đàn măngđôlin từng gắn bó với anh khi còn sống.
Người thợ điện trẻ tuổi đi vào lòng cách mạng
Nguyễn Văn Trỗi sinh năm 1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tuổi thơ của anh không được bình yên. Mẹ mất khi anh còn nhỏ, cha cũng bị giặc bắt, vì vậy Nguyễn Văn Trỗi phải sớm tự lập, rời quê đi tìm việc làm. Khi vào Sài Gòn, anh từng đạp xích lô rồi học nghề điện và làm việc tại Nhà máy điện Chợ Quán.
Một người thợ điện bình thường, nếu chỉ nhìn vào cuộc sống hằng ngày, có lẽ chẳng ai nghĩ sau này anh lại trở thành một trong những biểu tượng của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ.
Nhưng chiến tranh không cho người ta được lựa chọn một cuộc sống bình thường.
Năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi được giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng, trở thành chiến sĩ trong lực lượng biệt động Sài Gòn. Công việc của những người biệt động là hoạt động ngay giữa lòng thành phố, nơi mọi bước chân đều có thể bị theo dõi, mỗi nhiệm vụ đều có thể phải trả giá bằng tính mạng.
Tháng 4 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi vừa mới lập gia đình với chị Phan Thị Quyên. Hai người có với nhau một khoảng thời gian rất ngắn ngủi. Những kỷ vật còn lại cho thấy đó không chỉ là câu chuyện về một người chiến sĩ mà còn là câu chuyện về một người chồng trẻ đang có một mái ấm mà mình yêu thương. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện lưu giữ chiếc khăn tay chị Quyên thêu tặng anh cùng những bức thư anh gửi về cho vợ và người thân trong thời gian bị giam giữ.
Nhưng rồi một nhiệm vụ đặc biệt đến.
Và Nguyễn Văn Trỗi đã chọn bước vào nơi nguy hiểm nhất.
Nhiệm vụ ở cầu Công Lý
Đầu tháng 5 năm 1964, khi biết Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara sẽ sang Sài Gòn, lực lượng biệt động lên kế hoạch tấn công đoàn xe của phái đoàn Mỹ. Nguyễn Văn Trỗi được giao nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý, nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, để thực hiện kế hoạch.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Điều đáng nói là lúc ấy anh mới cưới vợ chưa lâu.
Một người vừa bước vào cuộc sống gia đình, lẽ ra có thể nghĩ đến những ngày tháng phía trước. Nhưng trước mắt anh khi đó lại là một nhiệm vụ mà anh hiểu rất rõ mức độ nguy hiểm.
Anh vẫn nhận.
Đêm 9 tháng 5 năm 1964, trong lúc đang thực hiện nhiệm vụ, Nguyễn Văn Trỗi bị địch phát hiện và bắt giữ. Kế hoạch chưa kịp thực hiện thì người chiến sĩ trẻ đã rơi vào tay đối phương.
Từ đây, cuộc chiến của Nguyễn Văn Trỗi không còn diễn ra trên đường phố Sài Gòn.
Nó diễn ra trong nhà tù.
Kẻ thù dùng nhiều hình thức tra tấn, dụ dỗ để buộc anh khai báo về tổ chức và đồng đội. Nhưng Nguyễn Văn Trỗi không khuất phục. Anh giữ kín những điều cần giữ, chấp nhận chịu đựng đau đớn để bảo vệ đồng đội và cơ sở cách mạng.
Trong những ngày bị giam, anh vẫn viết thư cho vợ và gia đình.
Những bức thư ấy ngày nay được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Chúng khiến câu chuyện về Nguyễn Văn Trỗi trở nên gần gũi hơn. Bởi đằng sau người chiến sĩ biệt động kiên cường ấy vẫn là một người chồng trẻ nhớ đến người vợ của mình, một người con nhớ đến gia đình.
Chiến tranh có thể biến một người thành chiến sĩ, nhưng không thể làm mất đi những tình cảm rất đời thường trong họ.
Chín phút trước giờ hy sinh
Sau nhiều tháng bị giam giữ, chính quyền Sài Gòn kết án tử hình Nguyễn Văn Trỗi.
Ngày 15 tháng 10 năm 1964, họ đưa anh ra pháp trường tại sân sau nhà lao Chí Hòa. Anh mới 24 tuổi.
Chín phút cuối cùng của cuộc đời anh đã trở thành những phút giây được nhiều thế hệ sau này nhắc đến.
Nguyễn Văn Trỗi không chấp nhận bịt mắt.
Anh đứng trước kẻ thù với tư thế hiên ngang.
Một người thanh niên gầy gò, bị trói chặt, biết rõ vài phút nữa mình sẽ phải chết, nhưng vẫn không cúi đầu.
Bức ảnh chụp anh trước giờ xử bắn được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia lưu giữ. Trong bức ảnh ấy, người ta có thể nhìn thấy sự bình tĩnh trong ánh mắt của người chiến sĩ trẻ. Đó không phải ánh mắt của một người đầu hàng số phận.
Trước pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi tranh thủ từng giây phút để tố cáo tội ác của kẻ thù và khẳng định niềm tin của mình.
Rồi những tiếng hô vang lên.
“Đả đảo đế quốc Mỹ xâm lược!”
“Việt Nam muôn năm!”
Và lời nói được nhiều thế hệ nhắc nhớ:
“Hãy nhớ lấy lời tôi!”
Ngày 15 tháng 10 năm ấy, Nguyễn Văn Trỗi hy sinh.
Một viên đạn có thể kết thúc cuộc đời của một con người, nhưng không thể kết thúc điều mà người đó đã để lại.
Một người đã nằm xuống, một câu chuyện còn ở lại
Sau khi Nguyễn Văn Trỗi hy sinh, câu chuyện về anh nhanh chóng lan rộng. Những tác phẩm văn học, âm nhạc, tranh cổ động đã được sáng tác để ghi nhớ người thanh niên ấy. Tác phẩm Sống như anh của nhà báo Trần Đình Vân cũng ra đời từ những tư liệu và câu chuyện về cuộc đời anh, trở thành một tác phẩm được nhiều thế hệ biết đến.
Điều đặc biệt là những gì còn lại về Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là những câu chuyện về chiến đấu.
Đó còn là một cây đàn măngđôlin.
Là những lá thư.
Là chiếc khăn tay của người vợ trẻ.
Những kỷ vật nhỏ bé ấy khiến hình ảnh Nguyễn Văn Trỗi không nằm mãi trong một bức ảnh ở pháp trường. Nó đưa anh trở về với cuộc sống của một người thanh niên bằng xương bằng thịt, cũng từng yêu thương, từng có gia đình, từng mong một ngày đất nước hòa bình để được sống một cuộc đời bình dị.


Ảnh tư liệu của bài viết.
ó lẽ chính vì vậy mà câu chuyện về anh vẫn khiến người trẻ hôm nay xúc động.
Tuổi trẻ hôm nay nhớ gì từ câu chuyện của anh?
Chúng ta đang sống trong một thời đại rất khác.
Không còn tiếng bom rơi trên thành phố. Không còn những người mẹ phải tiễn con ra chiến trường mà không biết ngày trở về. Những người trẻ hôm nay có cơ hội học tập, làm việc, yêu thương và theo đuổi những ước mơ của riêng mình.
Nhưng chính vì được sống trong hòa bình, chúng ta càng cần hiểu hòa bình quý giá đến thế nào.
Nguyễn Văn Trỗi đã dành tuổi trẻ của mình cho một cuộc chiến mà anh biết có thể phải trả giá bằng mạng sống. Thế hệ trẻ hôm nay không cần phải lặp lại những hy sinh ấy. Điều cần làm là sống sao cho xứng đáng với những người đã hy sinh để mình có được cuộc sống hôm nay.
Đó có thể là học tập nghiêm túc hơn. Là làm tốt công việc của mình. Là biết yêu thương gia đình. Là có trách nhiệm với cộng đồng. Là không thờ ơ trước những vấn đề của đất nước. Và hơn hết, là biết trân trọng lịch sử thay vì để những câu chuyện ấy trở thành những cái tên xa lạ trong sách giáo khoa.
Nếu tuổi trẻ của Nguyễn Văn Trỗi được viết giữa chiến tranh bằng lòng dũng cảm, thì tuổi trẻ hôm nay có thể viết tiếp bằng tri thức, lao động và sự cống hiến.
Ngày nay, cây cầu Công Lý năm xưa được mang tên Nguyễn Văn Trỗi – cái tên của người thanh niên đã hy sinh ở tuổi 24. Tên anh không còn chỉ nằm trên những trang sách. Nó hiện diện giữa đời sống hôm nay như một lời nhắc về một thế hệ đã đi qua chiến tranh.
Hai mươi bốn tuổi – Nguyễn Văn Trỗi đã khép lại cuộc đời mình.
Nhưng câu chuyện của anh thì chưa bao giờ khép lại.
Bởi mỗi khi một người trẻ biết trân trọng hòa bình, biết sống có trách nhiệm, biết cố gắng vì tương lai của đất nước, câu chuyện về những người như Nguyễn Văn Trỗi lại được kể tiếp theo một cách khác.
Anh đã sống một tuổi trẻ rất ngắn, nhưng sống trọn với điều mình tin tưởng.
Và có lẽ đó chính là điều thế hệ trẻ hôm nay cần nhớ nhất khi nhắc đến Nguyễn Văn Trỗi – người thanh niên đã bước qua pháp trường bằng một ánh mắt không cúi xuống.



